Các lệnh cần nhớ trong Ubuntu

Lệnh cài đặt bổ sung các thành phần trong Ubuntu:  tasksel

18/09/2009 at 22:55 Để lại phản hồi

Cài đặt các ứng dụng từ mã nguồn trên Linux

Có nhiều bạn khi lần đầu tiên đến với Linux cảm giác sự khó khăn và bất tiện của việc cài đặt các ứng dụng trên Linux, đặc biệt là các ứng dụng phải cài đặt từ mã nguồn như xine, openGL…

Trên Windows, bạn chỉ cần tải ứng dụng về, giải nén rồi click vào file setup là hoàn tất việc cài đặt, nhưng trên Linux đó là một chuyện hoàn toàn khác. Bài viết này sẽ nhằm mục đích hướng dẫn bạn các thao tác cài đặt các phần mềm ứng dụng trên Linux và cung cấp các kiến thức căn bản giúp bạn có thể quản lý hệ thống của riêng mình

Bài viết sẽ giả sử rằng bạn đã biết cách sử dụng một số phần mềm quản lý gói như rpm. Để dễ dàng thì bài viết sẽ gọi các phần mềm trên Linux là các gói (package). Thực tế tên gọi ‘gói’ đúng đắn hơn vì các gói trên Linux có thể không phải là một trình ứng dụng nào đó mà chỉ là các thư viện nền như thư viện đồ họa Gtk+ hoặc OpenGL…
1. Giới thiệu

Bạn có thể sẽ tự hỏi rằng tại sao các phần mềm trên Linux không tự đóng gói sẵn cho chúng ta rồi khi xuất bạn chỉ cần tải về và cài đặt nó. Câu trả lời nằm ở 2 vấn đề, vấn đề thứ 1 là các phần mềm viết trên Linux không hẳn chỉ có thể chạy trên Linux mà có thể chạy trên nhìều hệ thống khác nhau trong họ Unix như Solaris, AIX, HP-UX… thậm chí các phần mềm đó có thể chạy trên rất nhiều vi xử lý khác nhau như Intel, Motorola, PPC… Có được sự đa năng đó là nhờ vào tính đa nền (portable) của ngôn ngữ C/C++ nhưng đòi hỏi chúng ta phải biên dịch lại phần mềm từ mã nguồn cho hệ thống mà chúng vận hành. Bạn sẽ tự hỏi là tại sao các nhà phát triển lại không biên dịch sẵn cho chúng ta trên hệ thống thông dụng nào đó như Linux chẳng hạn.

Câu trả lời là bởi vì các phần mềm này là phần mềm mã nguồn mở và các nhà phát triển không có cách gì hơn là để lại phần biên dịch cho chúng ta. Tuy nhiên bạn đừng thất vọng vì có một số nhà phát triển rất là tốt bụng có thể biên dịch sẵn cho chúng ta ra các gói có dạng rpm và cùng với sự hỗ trợ của công ty Red Hat chúng ta cũng đã có những chương trình quản lý các phần mềm hiệu quả không kém gì trên Windows như RPM (Redhat Package Manager). Mặc dù là thế nhưng không phải lúc nào các gói mới nhất từ các nhà phát triển gốc đều có phiên bản biên dịch sẵn mà thường là một khỏang thời gian sau các phiên bản đó mới có được dưới dạng biên dịch sẵn. Bên cạnh đó còn có rất nhiều nhà phát triển không hề biên dịch sẵn sản phầm của mình mà đòi hòi người dùng phải biên dịch, điển hình là trình chơi phim và nhạc xine. Các gói biên dịch sẵn các bạn có từ xine đa số là từ các nhà phát triển khác. Do đó nếu bạn không bạn không biết cách cài đặt các gói từ nguồn là một trở ngại rất lớn cho việc hiểu và quản trị hệ thống của riêng mình.

2. Căn bản của việc cài đặt

Điều đầu tiên khi bạn tiến hành cài đặt là bạn phải có mã nguồn của gói đó trước. Hãy lên mạng search bất kì gói nào bạn thích như thư viện Gtk+ hoặc Gnome… Sau khi tải về, thông thường có dạng là .gz hoặc .bz2, đây đều là 2 chuẩn nén khác nhau, sau khi giải nén bằng gunzip cho gz hoặc bunzip2 cho bz2 thì các gói sẽ có dạng mới là tar, cũng là một chuẩn nén khác, bạn có thể giải nén bằng lệnh, tar -xvf… Thế nhưng đế dễ dàng và tiết kiệm dung lượng ổ đĩa thì chúng ta có thể gộp các câu lệnh đó thành 1 như sau:

– Đối với gói .gz: # tar -zxvf tengoi.gz
– Đối với gói .bz2: # tar -jxvf tengoi.bz2

Sau khi giải nén xong và tìm tập tin INSTALL để đọc cụ thể cho phần hướng dẫn cài đặt. Thế nhưng hầu như các gói đều tuân theo các thao tác tuần tự sau:

# ./configure
# make
# make install

Chỉ có vài gói đặc biệt sẽ có riêng cách cài đặt nhưng khi bạn đã nắm vững nguyên tắc chung thì dù là cách thức nào bạn cũng có thể xoay xở được. Chúng ta hãy xét đến câu lệnh đầu tiên, ./configure… Thực chất configure là một shell script sẽ kiểm tra những yêu cầu của hệ thống của bạn có đáp ứng đủ để cài đặt gói lên không, ví dụ như một số gói đòi hỏi bạn phải có sẵn thư viện đồ họa Gtk 2.4 trở lên hoặc là thư viện để giải nén nhạc Mp3…

Rất nhiều gói có sự phụ thuộc như thế chứ các gói khi tải về không hề có sẵn các gói tương ứng cần thiết cho nó. Khi bạn chạy configure xong kết quả sẽ cho bạn biết các gói nào cần thiết để cài đặt. Nhiệm vụ của bạn không gì hơn là phải tìm các gói phụ thuộc đó cài lên máy rồi mới tiếp tục việc cài đặt. Nếu như hệ thống của bạn thỏa mãn đầy đủ các yêu cầu để cài đặt thì các Makefile sẽ được tạo ra. Makefile là một file đặc biệt của tiện ích make nhằm hướng dẫn biên dịch mã nguồn của gói ra dạng thực thi.

Sau khi bạn thực thi lệnh ‘make’ xong thì toàn bộ mã nguồn của gói đã được biên dịch sang dạng thực thi nhưng các file thực thi vẫn còn nằm trên thư mục hiện hành. Do đó bạn cần phải thực hiện thêm lệnh ‘make install’ để chép các file thực thi đó sang đúng vị trí của nó trên hệ thống. Nếu như không có thông báo lỗi gì xảy ra thì bạn đã hòan tất việc cài đặt gói lên hệ thống của mình.

3. Tổ chức các file trên hệ thống

Bạn hoàn toàn biết thư mục trên Linux thì thư mục /usr là thư mục quan trọng nhất vì nó sẽ chứa các chương trình và hàm thư viện trên đó. Trong thư mục /usr/bin là sẽ chứa các file thực thi cho các gói bạn đã cài đặt trên máy, các file trong thư mục này bạn sẽ thấy các file rất quen thuộc như mozilla, gedit .v.v… Thư mục /usr/lib sẽ chứa các hàm thư viện, bạn sẽ thấy rất nhiều files có phần mở rộng là .so (shared object) là các hàm thư viện liên kết động hoặc .a (archive) hoặc .la đều là các hàm thư viện liên kết tĩnh. Đặc tính căn bản của 2 dạng thư viện này là hàm thư viện liên kết tĩnh sẽ được liên kết thẳng với files thực thi luôn trong quá trình liên kết, còn hàm thư viện liên kết động thì sẽ được liên kết trong quá trình thực thi, cho nên sau khi chương trình đã được biên dịch và liền kết rồi các thư viên tĩnh chúng ta có thể bỏ đi nhưng thư viện liên kết động thì bắt buộc phải đi kèm với chương trình. Thư mục /usr/share sẽ chứa các icon, manual hoặc info của gói.

4. Loại bỏ một gói

Nếu bạn mong muốn lọai bỏ một gói đã cài đặt trên hệthống thì cách duy nhất là bạn phải vào lại thư mục mã nguồn của gói và gõ lệnh make ‘uninstall’… thông thường bạn sẽ có các câu lệnh sau: ‘make clean’ ‘make distclean’… Các câu lệnh có ý nghĩa rất tương đối và được định nghĩa trong tập tin Makefile, nên đầu tiên bạn cứ thử với ‘make uninstall’ rồi ‘make clean’ cái cuối cùng ‘make distclean’ là giúp bạn xóa hết các tập tin đã biên dịch ở thư mục nguồn và đồng thời xóa Makefile, bạn phải chạy lại ./configure để tạo lại Makefile.

5. Quản lý các gói

Do việc xóa bỏ một gói như trên rất là phiền phức đôi lúc bạn chẳng thể xóa bỏđược nếu như mất đi mã nguồn, cho nên bạn có thể thay vì cài nó vào thư mục mặc định là /usr thì bạn có thể cài vào các thư mục của riêng bạn, ví dụ như bạn có thể tạo thư mục ‘/soft’… Sau đó để cài gói gedit thì bạn tạo thêm thư mục /soft/gedit và dùng lệnh ./configure… bạn thêm tùy chọn sau:

./configure –prefix=/soft/gedit

Thì khi bạn gõ make install sẽ copy toàn bộ sang thư mục /soft/gedit. Khi bạn muốn xóa toàn bộ gói thì chỉ đơn giản xóa đi thư mục đó thôi. Lưu ý là khi bạn cài vào thư mục riêng của mình rồi bạn phải tạo 2 đường dẫn cho 2 biến môi trường (environment variable) LD_LIBRARY_PATH và PKG_CONFIG_PATH.

LD_LIBRARY_PATH sẽ có đường dẫn đến thư mục lib của gói vừa tạo (ví dụ như /soft/gedit/lib) còn PKG_CONFIG_PATH sẽ có đường dẫn đến thư mục pkg_config trong thư mục lib (ví dụ như /soft/gedit/lib/pkg_config). Bên cạnh đó nếu bạn muốn chương trình gọi tự động thì bạn cũng nên thêm vào biến PATH cho gói của mình.

6. Lời kết

Đối với cách cài trên thì bạn dể dàng quản lý các gói của mình nhưng đối với các dạng thư viện thì bạn nên cài nó vào thư mục /usr hơn là thư mục riêng của mình vì một số gói sẽ tìm các thư việc trên thư mục mặc định /usr và /usr/local hơn là các thư mục riêng người dùng nên nếu bạn cài lên thư mục riêng thì đôi lúc các thư viện đó sẽ không được tìm ra. Thông thường lệnh ./configure đi đôi với rất nhiều tùy chọn cho phép bạn lựa chọn nhiều tính năng khác nhau, bạn hãy gỏ ./configure –help để mà biết đầy đủ các tùy chọn của gói

06/10/2007 at 02:13 Để lại phản hồi

Đề thi kiểm tra kiến thức Hệ điều hành và Mạng máy tính

Phần 2. Hệ Điều Hành

Câu 1:
Máy tính cài hệ điều hành Windows Version từ Windows 2000 trở lên có tài khoản IUSR_ComputerName hay không, nếu có trong trường hợp nào và tài khoản đó thuộc nhóm người nào, quyền hành ra sao?

Câu 2:
IIS Version 5.1 (chạy trên Windows XP) có đặc điểm gì mà bạn cho là khác so với IIS Version 6 (chạy trên Windows 2003)?

Câu 3:
Khi bạn bật Task Manager lên chuyển qua thẻ Processes nhìn xuống cột User Name thấy có SYSTEM,Vậy thì SYSTEM có phải là một user hay không?

Câu 4:
Theo đánh giá của bạn chức năng Intergrated Windows Authentication của IIS có những lợi ích gì?

Câu 5:
Với ISS, khi ta Enable Anonymous Access lên, thì chức năng Intergrated Windows Authentication còn tác dụng hay không?

Câu 6:
Đặt giả sử bạn cài Apache trên Windows XP hoặc Windows 2003 Server, Apache được chạy như một service của Windows. Đặt giả sử như Apache được cài đặt để làm việc với 1 server script (như PHP chẳng hạn); trên thư mục chủ có 1 shell. Nếu là bạn bạn có thể định cấu hình như thế nào để shell này không thể xóa những dữ liệu ở một khu vực nào đó trong hệ thống của bạn?

Câu 7:
a) Mô hình ODBC là gì? Bạn biết gì về JDBC?
b) Việc sử dụng DBMS Microsoft Access có điểm bất lợi gì, ưu điểm gì?

Câu 8:
Khi máy tính nhà bạn có điện nguồn vào mà không hoạt động được (Màn hình đen) thì việc đầu tiên bạn sẽ làm gì?

Câu 9:
Để máy tính của bạn bền và không mất data bạn nên dùng tiện ích Diskdefragmenter có sẵn trong Windows để sắp xếp lại HDD mỗi tuần là đúng hay sai? Bạn có cách nào hay hơn không?

Câu 10:
Bạn biết là ngôn ngữ C/C++ có kiểu con trỏ. Vậy với hệ máy tính 16 bit sử dụng chip 8086 của Intel thì con trỏ là gì?
A – Chỉ là một định danh nào đó giúp trình biên dịch định vị biến
B – Là một vùng nhớ 4 byte lưu địa chỉ vùng nhớ nào đó mà con trỏ trỏ đến
C – là vùng nhớ 2 byte lưu địa chỉ vùng nhớ con trỏ trỏ đến
D – Con trỏ là một chỉ thị tiền biên dịch

Phần 3. Mạng Máy Tính

Câu 1:
Khi từ trình duyệt ta gõ một URL: http://www.google.com thì thông tin mà trình duyệt gửi ra ngoài sẽ đến đâu đầu tiên:
A – Đến Web Server của Google
B – Đến DNS Server mà máy tính bạn trỏ đến
C – Đến DHCP Server mà máy tính bạn trỏ đến

Câu 2:
Như chúng ta đã biết trên lý thuyết địa chỉ IP bắt đầu từ 0.0.0.0 tới 255.255.255.255, vậy bạn có thể cho biết địa chỉ lớp B bắt đầu từ đâu và kết thúc từ đâu? và IP 127.0.0.1 có sử dụng để kết nối mạng được không? vì sao?

Câu 3:
Trong một Hệ Điều hành Windows hay *nix , khi vừa cài xong, đã kết nối mạng nhưng không dùng trình duyệt (Browser), không dùng Soft và Webmail để connect, chúng ta muốn gửi một E-mail thì có gửi được không? Nếu được thì bằng cách nào?

Câu 4:
Trong giao thức POP3 (Post Office Protocol version 3), khi gửi e-mail đi thì password sẽ được mã hóa theo dạng nào?

Câu 5:
Khi up 1 con shell có chức năng Back connect lên server, và bạn thực hiện NetCat để connect, vậy bạn hiểu thế nào về Back Connect? và lợi ích của việc dùng Back Connect?

Câu 6:
Mô hình TCP/IP gồm có bao nhiêu lớp, hãy kể tên và nhiệm vụ của từng lớp cũng như các giao thức có trong nó, cho biết giao thức SMTP nằm ở lớp nào?

Câu 7:
Bạn có thể dùng 2 máy tính nối vào 1 Modem và thực hiện sự trao đổi Data cũng như cho 2 máy nhìn thấy nhau giống như mạng LAN được không? Nếu được bạn hãy trình bày.

Câu 8:
Trong một phòng Lab có 20 máy, dùng 2 link ADSL: 1 của FPT và 1 của VDC, sài 2 Modem nhưng chỉ nối với 20 máy đó bằng 1 Hub, cấu hình sao cho 10 máy bên này dùng dịch vụ của VDC và 10 máy dùng dịch vụ của FPT, hỏi có thể làm cho các máy nhận ra nhau như trong mang LAN được không? và bằng cách nào?

Câu 9:
Bạn biết rằng chúng ta gõ vào trình duyệt 127.0.0.1 hoặc localhost thì cả 2 đều trỏ đến chính máy chúng ta. Vậy làm cách nào để đổi được từ trình duyệt gõ google.com thì cũng tương đương việc ta gõ 127.0.0.1

Câu 10:
Nếu được lựa chọn một hệ điều hành máy server bạn sẽ chọn Linux hay Windows , vì sao bạn lại có những lựa chọn như vậy?

Mọi người nếu thích có thể tải 1 số Eboooks mà tuanh sưu tầm được về mục này để tham khảo, link tuanh đã để sẵn ở phần Blogroll rồi đó.

30/08/2007 at 05:45 Để lại phản hồi

Cách tạo Name-based virtual host

Người dùng sử dụng tên ảo với mục đích chạy được nhiều tên (hostnames) khác nhau trên một máy chủ. Có hai loại tên ảo có thể sử dụng trong Apache: cách dựa vào tên (name-based virtual host) và cách dựa vào IP (IP-based virtual host).

Sử dụng tên ảo bằng cách dựa vào tên có lợi điểm là bạn chỉ cần dùng một địa chỉ IP cho tất cá các tên.

Điều quan trọng là bạn phải khai báo tất cả các tên bạn muốn dùng với Apache trong máy chủ DNS trước. Nếu bạn chỉ khai báo thoải mái các tên khác nhau trong httpd.conf (hay apache.conf) mà trong máy chủ DNS không hề có thông tin của các tên thì người dùng sẽ không thấy được trang web của bạn. Cái điểm yếu của việc sử dụng tên ảo dựa vào tên là bạn không thể xài SSL (https://) cho tất cả các tên vì SSL yêu cầu mỗi tên phải có riêng một IP trong khi sử dụng tên ảo dựa vào tên thì bạn chỉ có một IP duy nhất cho nhiều tên khác nhau.

Ví dụ cụ thể:

vnlinux.org có địa chỉ là 24.153.136.146. Tại sao mình biết? Chỉ việc gõ host vnlinux.org thì bạn sẽ thấy trả lời giống bên dưới:

rhs@gw rhs $ host vnlinux.org

vnlinux.org has address 24.153.136.146

Mỗi lần ghé thăm trang web vnlinux.org, thì người dùng có thể gõ http://www.vnlinux.org hay http://vnlinux.org sẽ đều thấy cả hai địa chỉ khác nhau nhưng nội dung thì như nhau. Tại sao vậy? Nếu bạn gõ host http://www.vnlinux.org thì bạn sẽ thấy trả lời là

rhs@gw rhs $ host http://www.vnlinux.org

http://www.vnlinux.org is an alias for vnlinux.org.

Lý do là vì mình đã khai báo trong DNS record, http://www.vnlinux.org sẽ là alias (hay còn gọi là CNAME khi thiết lập máy chủ DNS) của vnlinux.org
Bên dưới là những hàng mình lấy ra từ tập tin db.vnlinux.org của máy chủ DNS

vnlinux.org. IN A 24.153.136.146

http://www.vnlinux.org. IN CNAME vnlinux.org.

Trong httpd.conf (hay apache.conf), mình khai báo ServerName http://www.vnlinux.org

Ví dụ trên chỉ đơn thuần giải thích cách dùng CNAME cho trang web .

Kế tiếp mình sẽ giải thích cách cấu hình dns và apache cho việc sử dụng tên ảo dựa vào tên (name-based virtual host).

Ví dụ trên bạn cũng đã thấy http://www.vnlinux.org có IP là 24.153.136.146 Mình cũng đã có những trang web sau cùng có chung IP với vnlinux.org bằng cách sử dụng tên ảo dựa vào tên.

howto.vnlinux.org

i18n.vnlinux.org

dịchthuật.vnlinux.org *

Bên dưới là kết quả của lệnh host cho những tên phía trên.

rhs@gw rhs $ host howto.vnlinux.org

howto.vnlinux.org has address 24.153.136.146

rhs@gw rhs $ host i18n.vnlinux.org

i18n.vnlinux.org has address 24.153.136.146

rhs@gw rhs $ host xn--dchthut-5p4c4j.vnlinux.org

xn--dchthut-5p4c4j.vnlinux.org has address 24.153.136.146

* xn--dchthut-5p4c4j là punycode format cho dịchthuật
Xem thêm về punycode bằng cách nhấn đây http://search.yahoo.com/search?ei=UTF-8&fr=sfp&p=punycode

Thông tin khai báo cho DNS (Nhớ khởi động lại máy chủ DNS):

howto.vnlinux.org. IN A 24.153.136.146

i18n.vnlinux.org. IN A 24.153.136.146

xn--dchthut-5p4c4j.vnlinux.org. IN A 24.153.136.146

Thông tin khai báo trong httpd.conf (hay apache.conf hay VHost.conf…)

NameVirtualHost 24.153.136.146:80

(VirtualHost 24.153.136.146:80)

ServerAdmin me@here.com

DocumentRoot /Nơi/các/tập/tin/nằm/trong/htdocs

ServerName http://www.vnlinux.org

ErrorLog logs/VietLUG_error_log

CustomLog logs/VietLUG_access_log common

DirectoryIndex index.html

RewriteEngine on

RewriteCond %{REQUEST_METHOD} ^{TRACE|TRACK}

RewriteRule .* – [F]

(/VirtualHost)

Thay () với <> trước và sau chữ VirtualHost. Đừng quên thay hàng đầu phía trên.

(VirtualHost 24.153.136.146:80)

ServerAdmin me@here.com

DocumentRoot /Nơi/các/tập/tin/nằm/trong/htdocs

ServerName xn--dchthut-5p4c4j.vnlinux.org

ErrorLog logs/dichthuat_error_log

CustomLog logs/dichthuat_access_log common

DirectoryIndex index.html

RewriteEngine on

RewriteCond %{REQUEST_METHOD} ^{TRACE|TRACK}

RewriteRule .* – [F]

(/VirtualHost)

Thay () với <> trước và sau chữ VirtualHost. Đừng quên thay hàng đầu phía trên.

Làm y chang như trên cho hai tên howto và i18n. Sau khi khai báo các hàng trên, bạn phải khởi động lại apache.

Lưu ý: những dòng trên là những khai báo căn bản trong httpd.conf. Tùy vào nhu cầu phục vụ trang web mà bạn rất có thể cần thêm bớt các giá trị tùy thích

Nếu bạn đã khai báo trong DNS và apache đầy đủ mà vẫn không thấy các tên ảo hoạt động, rất có thể bạn phải chờ trong vòng một ngày (hoặc sớm hơn, hoặc lâu hơn) để DNS records chứa những thông tin bạn vừa thành lập được cập nhật.

Muốn kiểm tra ngay lập tức xem các tên ảo đã được thiết lập đúng chưa bạn có thể gõ httpd -S (hay apache -S)

Bài viết trên đã hướng dẫn cách thiết lập dns và apache cần thiết cho việc sử dụng tên ảo dựa vào tên (name-based virtual host).

30/08/2007 at 04:22 Để lại phản hồi

Kỹ thuật NAT

Nội dung:

  • -1-Giới thiệu
  • -2-Các kỹ thuật NAT cổ điển
    * NAT tĩnh
    * NAT động
    * Masquerading(NAPT)
  • -3-Các kỹ thuật NAT khác
    * Virtual Server(Load balancing)
    * Multiple routes per Destination
  • -4-Các vấn đề cần giải quyết cho kỹ thuật NAT
    * Lưu giữ thông tin trạng thái
    * Phân chia (fragmentation)
    * Định ra giao thức (protocol) cụ thể

Trình bày
1) Giới thiệu:
Lúc đầu, khi NAT được phát minh ra nó chỉ để giải quyết cho vấn đề thiếu IP .Vào lúc ấy không ai nghĩ rằng NAT có nhiều hữu ích và có lẽ nhiều ứng dụng trong những vấn đề khác của NAT vẫn chưa được tìm thấy.
Trong ngữ cảnh đó nhiều người đã cố gắng tìm hiểu vai trò của NAT và lợi ích của nó trong tương lai.Khi mà IPv6 được hiện thực thì nó không chỉ giải quyết cho vấn đề thiếu IP.Qua nhiều cuộc thử nghiệm họ đã chỉ ra rằng viêc chuyển hoàn toàn qua IPv6 thì không có vấn đề gì và mau lẹ nhưng để giải quyết những vấn đề liên qua giữa IPv6 và IPv4 là khó khăn.Bởi vậy có khả năng IPv4 sẽ là giao thức chủ yếu cho Internet và Intranet … lâu dài hơn những gì họ mong muốn.
Trước khi giải thích vai trò của NAT ngày nay và trong tương lai ,những người này muốn chỉ ra sự khác nhau về phạm vi của NAT được sủ dụng vào ngày đó.Sự giải thích sẽ đưa ra một cái nhìn tổng quan và họ không khuyên rằng làm thế nào và nên dùng loại NAT nào.Sau đây chỉ là giới thiệu và phân loại các NAT phần chi tiết sẽ được thảo luận và đề  cập trong chương sau khi hiện thực NAT là một laid out.
Phần trình bày được chia làm 2 phần :
– Phần đầu được đặt tên là CLASSIC NAT nó là các kỹ thuật NAT vào những thời kỳ sơ khai (đầu những năm 90) được trình bày chi tiết trong RFC 1931. Ứng dụng của nó chủ yếu giải quyết cho bài toán thiếu IP trên Internet.
– Phần hai trình bày những kỹ thuật NAT được tìm ra gần đây và ứng dụng trong nhiều mục đích khác.
2)Các kỹ thuật NAT cổ điển:
Nói về NAT chúng ta phải biết rằng có 2 cách là tĩnh và động .Trong trường hợp đầu thì sự phân chia IP là rõ ràng còn trường hợp sau thì ngược lại.Với NAT tĩnh thì một IP nguồn  luôn được chuyển thành chỉ một IP
đích mà thôi trong bất kỳ thời gian nào.Trong khi đó NAT động thì IP này là thay đổi trong các thời gian và trong các kết nối khác nhau.
Trong phần này chúng ta định nghia :
m: số IP cần được chuyển đổi (IP nguồn)
n: số IP sẵn có cho việc chuyển đổi (IP NATs hay gọi là IP đích)
* NAT tĩnh
Yêu cầu m,n>=1;m=n(m,n là số tự nhiên)
Với cơ chế IP tinh chúng ta có thể chuyển đổi cùng một số lượng các IP nguồn và đích .Trường hợp đặc biệt là khi cả 2 chỉ chứa duy nhất một IP ví dụ netmask  là 255.255.255.255 .Cách thức hiện thực NAT tĩnh thì dễ dàng vì toàn bộ cơ chế dịch địa chỉ được thực hiện bởI  một công thức đơn giản:
  Địa chỉ đích =Địa chỉ mạng mới OR (địa chỉ nguồn AND ( NOT netmask))
Không có thông tin về trạng thái kết nối.Nó chỉ cần tìm các IP đích thích hợp là đủ.
Các kết nối từ bên ngoài hệ thống vào bên trong hệ thống thì chỉ khác nhau về IP vì thế cơ chế NAT tĩnh thì hầu như hoàn toàn trong suốt.
Ví dụ một rule cho NAT tĩnh:
Dịch toàn bộ IP trong mạng 138.201.148.0 đến mạng có địa chỉ là 94.64.15.0,netmask là 255.255.255.0 cho cả hai mạng.
Dưới đây là mô tả việc dịch từ địa chỉ có IP là 138.201.148.27 đến 94.64.15.27,các cái khác tương tự.
10001010.11001001.10010100.00011011 (host 138.201.148.0)
AND
00000000.00000000.00000000.11111111 (reverse netmask)
01011110.01000000.00001111                  (new net: 94.64.15.0)
01011110.01000000.00001111.00011011 (địa chỉ mới )
* NAT động
Yêu cầu m>=1 và m>=n
NAT động được sử dụng khi số IP nguồn không bằng số IP đích.Số host chia sẻ nói chung bị giới hạn bởi số IP đích có sẵn.NAT động phức tạp hơn NAT tĩnh vì thế chúng phải lưu giữ lại thông tin kết nối và thậm chí tìm thông tin của TCP trong packet.
Như đã đề cập ở trên NAT động cũng có thể sử dụng như một NAT tĩnh khi m=n.Một số người dùng nó thay cho NAT tĩnh vì mục đích bảo mật.Những kẻ từ bên ngoài không thể tìm được IP nào kết nối với host chỉ định vì tại thời điểm tiếp theo host này có thể nhận một IP hoàn toàn khác.Trong trường hợp đặc biệt thậm chí có nhiều địa chỉ đích hơn địa chỉ nguồn (m<n)
Những kết nối từ bên ngoài thì chỉ có thể khi những host này vẫn còn nắm giữ một IP trong bảng NAT động.Nơi mà NAT router lưu giữ những thông tin về IP bên trong (IP nguồn )được liên kết với NAT-IP(IP đích).Cho một ví dụ trong một session của FPT non-passive.Nơi mà server cố gắng thiết lập một kênh truyền dữ liệu vì thế khi server cố gắng gửi một IP packet đến FTP client thì phải có một entry cho client trong bảng NAT.Nó vẫn phải còn liên kết một IPclient với cùng một NAT-IPs khi client bắt đầu một kênh truyền control trừ khi FTP session rỗi sau một thời gian timeout.Xin nói thêm giao thức FTP có 2 cơ chế là passive và non-passive .Giao thức FTP luôn dùng 2 port (control và data) .Với cơ chế passive (thụ động ) host kết nối sẽ nhận thông tin về data port từ server và ngược lại non-passive thì host kết nối sẽ chỉ định dataport yêu cầu server lắng nghe kết nối tới.Tham khảo thêm về FTP protocol trong RFC 959
Bất cứ khi nào nếu một kẻ từ bên ngoài muốn kết nối vào một host chỉ định ở bên trong mạng tại một thời điểm tùy ý chỉ có 2 trường hợp :
+ Host bên trong không có một entry trong bảng NAT khi đó sẽ nhận được thông tin “host unreachable” hoặc có một entry nhưng NAT-IPs là không biết.
+ Biết được IP của một kết nối bởi vì có một kết nối từ host bên trong ra ngoài mạng.Tuy nhiên đó chỉ là NAT-IPs và không phải là IP thật của host.Và thông tin này sẽ bị mất sau một thờii gian timeout của entry này trong bảng NAT router.
Ví dụ về một rule cho NAT động:
Dịch toàn bộ những IP trong class B ,địa chỉ mạng 138.201.0.0 đến IP trong class C 178.201.112.0.Mỗi kết nối mới từ bên trong sẽ được liên kết với tập IP của class C khi mà IP đó không được sử dụng.
— Xem thêm hình vẽ mô tả trong tài liệu NAT của SuSe —
*Masquerading(NAPT)
Yêu cầu m>=1 và n=1
Đây là một trường hợp đặc biệt của NAT động.Thuật ngữ Masquerading trở nên nổi tiếng bởi vì nó được hiện thực trong thế giới Linux .Nó là loại NAT được sử dụng hầu hết vào thời điểm đó.Với cơ chế này nhiều địa chỉ IP được ẩn đi dưới một địa chỉ duy nhất.Nó tương phản với NAT động ,rằng chỉ có một kết nối cho một IP duy nhất tại một thời điểm .Trong masquerading nhiều kết nối đến cùng một IP sẽ được phân chia thông qua TCP Port.Vấn đề đặc biệt của Masquerading là một số service trên host chỉ định chỉ chấp nhận kết nối từ những port đặc quyền để đảm bảo rằng kết nối đi vào không phải là từ một user bình thường.Có lẽ chỉ superuser có thể xử lý những port này.Vì trên DOS hoặc Window mọi người  đều có thể sử dụng chúng nên một số chương trình không thể sử dụng kết nối masquerading.Masquerading thường sử dụng những port ở một tầm vực cao.Trong Linux ,bắt đầu là 61000 và kết thúc là 61000+4096.Mặc định này có thể thay đổi bằng cách edit /linux/include/net/ip_masq.h
Điều này cũng chỉ ra rằng Linux hiện thực masquerading chỉ cho đồng thời 4096 kết nốI masquerading .Kết nối masquerading cần phải lưu giữ nhiều thông tin về trạng thái kêt nối.Ví dụ trên Linux, nó xem như tất cả các packet với Destination IP= Local IP và Destination port nằm trong tầm port cho phép của Masquerading khi phải demasqueraded(phân giải những packet đã được masqueraded) Thực chất là việc thay đổi destination address và source address trong header packet.
Rõ ràng Masquerading chỉ có một chiều . Những kết nối vào thì không thể Masquerading .Vì thậm chí  khi một host có một entry trong masquerading table của NAT device thì entry này chỉ hợp lệ khi một kết nối đang được active.Ngay cả một ICMP-Reply liên quan đến kết nối (host/port unreachable) cũng phải được filter và relay bởi NAT router.
Trong khi thật sự kết nối vào không thể Masquerading nhưng chúng ta có thể thêm vào để cho phép điều đó tuy nhiên chúng không phải là một phần thuộc về Masquerading .Chúng ta có thể làm điều đó ví dụ setup một NAT device để nó relay tất cả các kết nối từ bên ngoài đến port telnet của một host bên trong Tuy nhiên vì chúng ta chỉ có một IP được thấy từ bên ngoài cho phép kết nối vào cho cùng một service nhưng cho các host khác nhau bên trong mạng .Chúng ta phải cho lắng nghe trên một port khác Vì nhiều service trên những well-known port thì không thể thay đổi hoặc việc thay đổi là bất tiện đặc biệt trên những pulic server.Ví dụ 80 cho HTTP , 23 cho TELNET. Chỉ có một cách giải quyết là phải có nhiều IP đích khi các service này tăng lên.Một IP đích có thể vẫn đuợc chia sẻ bởi những service khác nhau và rồi được remap với những IP nguồn khác bên trong mạng .Nhưng đây không phải là Masquerading.
Ví dụ cho một rule của Masquerading
– Masquerading cho mạng 138.201.0.0 dùng NAT đến IP local
– Cho mỗi packet IP đi ra source IP sẽ được thay bởi IP của NAT router.Source port sẽ được đổi thành một port nằm trong tầm của Masquerading.
— Xem thêm hình vẽ mô tả trong tài liệu NAT của SuSe —
Lợi ích lớn nhất của Masquerading là chỉ cần một IP được cấp mà toàn mạng vẫn có thể kết nối trực tiếp đến Internet ,điều này là quan trọng vì địa chỉ IP thì qúa mắc.Mặc dù đối với những ứng dụng mức gateway chúng ta không cần thêm bất kỳ IP và bất kỳ loại NAT nào và một IP thì vẫn đủ nhưng cho một số giao thức thí dụ tất cả UDP based service nó thì không chỉ là mức gateway mà cần phải kết nối IP trực tiếp. Tham khảo thêm RFC 1631(NAT) được đề cập là Network Address Port Translation (NAPT)
3)Các kỹ thuật NAT khác
*Virtual Server (Loadbalancing)
NAT router đóng vai trò là một virtual server và các kết nối vào sẽ được chuyển đến 2 hay nhiều server thật .Phụ thuộc vào giải thuật được xây dựng mà kết nối này sẽ đi vào server nào ở bên trong.
Ví dụ một NAT rule như sau:
– Tạo một virtual server với IP là 138.201.14.100
– Sử dụng 2 host là 138.201.14.111 và 148.201.14.112 là những real server cho virtual server.
– Một kết nối từ bên ngoài sẽ được remap bởi NAT router để sử dụng một trong 2 host (realserver)
— Xem thêm hình vẽ mô tả trong tài liệu NAT của SuSe —
+ Load Balancing
Giải thuật để quyết định real server nào được kết nối. Cho ví dụ kiểm tra tải trên những realserver dựa trên việc đếm số packet  trên mỗi giây đi qua NAT device đến real server sau đó sẽ chọn ra realserver có hiệu năng nhất.Bằng cách ấy sẽ điều chỉnh được traffic trên mạng và giảm tải cho các server.Số giải thuật được sử dụng ở đây thì không thể đếm được và dựa trên những cách tính toán khác nhau nhưng tất cả đều có chung mục đích là giảm tải cho server.Khái niệm “tải” ở đây thì không rõ ràng và không được đĩnh nghĩa duy nhất.
Cho ví dụ về loadbalancing:
Chạy một deamon trên mỗi server cung cấp thông tin cho NAT router về tải (load) trên máy này và remap những kết nối mới đến hệ thống nơi mà số này là thấp nhất.
Điều này đòi hỏi sự liên lạc giữa những host(real server) và NAT router vì thế chúng ta nên sử dụng những thông tin có trên NAT router như là số kết nối hiện tại đang được remap đến một host hoặc ta phải sử dụng những thông tin vốn không có trên server nhưng có thể dễ dàng được tìm thấy như là số byte hoặc packet mỗi giây của một host hiện tại handle.Yếu tố được đề cập ở đây sẽ là một vài ý niệm để quyết định việc đạt được sự cân bằng trong việc phân bố tải Chính xác hơn là chúng ta cố gắng đo lường và tính toán tải cho mỗi host.Có một số giải thuật ví dụ như giải thuật dựa trên học thuyết về nguyên lý không chắc chắn trong định lượng của Heisenberg.
Vì thế chúng ta phải tìm cách làm tối thiểu chi phí của host để quyết định tải và host sẽ được kết nối.
Ngay cả khi chúng ta giả sử đã tìm ra một phương thức chính xác và tốt để quyết định tải được sử dụng dựa trên việc định nghĩa “tải” là gì thì thực tiễn vẫn chưa phải là giải pháp tốt nhất vì một IP packet có kích thước nhỏ nhất chỉ được xác định bằng cách định lượng vật lý.Chúng ta có thể chỉ mới chọn được host nào chúng ta cần gửi kết nối đến khi một kết nối mới được mở mà chưa thật sự tối ưu.Tuy nhiên dù sao đi nữa các phương thức đề cập ở trên cũng có thể được áp dụng vào thực tiễn cho việc xác định cân bằng tải ngoài ra có thể có một cách tính toán nào đó tốt nhất mà chúng ta chưa tìm ra.
Có nhiều cách tiếp cận để giải quyết cho bài toán Load balancing ,hầu hết trong số chúng đều ở mức application.Một ví dụ được mô tả trong RFC 1794 đó là dùng DNS support cho Load balancing.Trong tài liệu này đề cập đến việc dùng DNS cho việc điều khiển tải của máy bằng cách tìm ra IP của máy ít bận rộn nhất khi được chất vấn (queried) Vì DNS-queries sẽ được cache bởi liên tiếp các DNS-server với việc điều khiển các giới hạn một cách khắt khe.Nó làm việc hoàn toàn tốt khi có nhiều chất vấn và ngay cả khi chúng đến từ nhiều máy client.Tuy nhiên dù cho Load balancing có làm việc trong trạng thái tốt thì cách tiếp cận này sẽ không giúp được gì một khi server bị fail vì thậm chí ngay cả khi các IP được phân chia riêng biệt trong việc chất vấn thì nó vẫn còn được cache do đó khi server bị fail thì có thể server này là hiệu năng nhất và cơ chế load balancing hoàn toàn bị phá vỡ .Một ví dụ cho chương trình cache nổi tiếng là Squid nó sử dụng giải thuật phức tạp để tìm ra một mục tiêu tốt nhất.Giải quyết này chưa hẳn đã giống trên NAT nhưng mục tiêu của nó là như nhau.Với NAT chúng ta có thể phân bố tải cho những service lớn và đa dạng dựa trên IP còn Squid phục vụ cho một mục đích khác và sự so sánh này chưa hẳn đã hoàn toàn hợp lý.Người viết chọn squid là một ví dụ vì trong squid thực hiện việc load balancing để tìm ra một dữ liệu sao cho tối ưu một cách thông minh.
+ Backup Systems
Virtual server cũng có thể được sử dụng để đạt được khả năng phục vụ tốt nhất nếu giải quyết được bài toán một real server bất kỳ bị fail ở trên.Vì các service được cung cấp bởi Virtual server thì có khả năng trên bất kỳ real server . Đặt trường hợp một real server bị fail có xác suất là p thì một virtual server sử dụng N real server trong trường hợp bị fail có thể được tính toán như sau:
Đặt
+ p1..pn là khả năng xảy ra lỗi của server n trên N (N là số server được cung cấp cho virtual server)
+ pNAT: khả năng xảy ra lỗi của NAT router,lỗi này không phụ thuộc vào thiết bị khác
+ pvirt: khả năng xảy ra lỗi của virtual server khi một realserver bị fail
Công thức được tính toán là:
Pvirt=1-((1- [tích(pi) chạy từ 1->n]) X (1-pNAT))
Dĩ nhiên setup hệ thống sử dụng công thức trên cho việc tính toán load balancing phải thay đổi danh sách server được sử dụng bởi NAT router ngay khi một real server bị fail . Điều này không thuộc về NAT-code nhưng có thể thực hiện tốt ở mức cao ,thậm chí từ shell scripts.Quan trọng là phải có cơ chế remove server bị fail từ bảng virtual server vì thế phải xây dựng bảng virtual server có khả năng thay đổi dễ dàng
để những IP có thể thêm vào hoặc loại bỏ trong thời gian thực thi (runtime)
Như vậy với cách làm này chúng ta đã có một liên kết giữa 2 khả năng là load balancing và high availability dùng virtual server.Nó thì hoàn toàn trong suốt đốI với tất cả các host ,người sử dụng và những chương trình dùng virtual service.
*Multiple routers per Destination
Như ở trên chúng ta thấy chúng ta có thể dùng NAT để phân bố tải qua nhiều host và đạt được khả năng sẵn dùng cao (high availability) .Chúng ta có thể sử dụng NAT để làm điều này cho nhiều mạng không? Vâng chúng ta có thể. Ở phần trên chúng ta thấy chúng ta đã sử dụng virtual server thay thế cho nhiều host thật sự (real server)
Chúng ta cũng có thể tạo ra kết nối mạng ảo (virtual network) gồm nhiều mạch thật sự (real wire) dùng kỹ thuật virtual server.
Chúng ta có thể làm điều này với NAT như thế nào? Hãy tưởng tượng chúng ta có 2 nguồn cung cấp Internet (Internet provider).Chọn 2 bởi vì chúng ta không muốn xảy ra lỗi khi một nguồn bị hỏng.Mỗi host cần kết nối Internet phải có một IP duy nhất vì thế chúng ta mua cho mỗi host một IP từ 2 nhà cung cấp khác nhau.Như vậy chúng ta có thể sử dụng một trong 2 host để gửi packet đến cùng một vị trí.Bây giờ chúng ta sẽ setup cho hệ thống mô tả ở trên,chúng ta sẽ phân bố tải bằng cách sử dụng một ít host thông qua provider 1 và một vài cái khác thông qua provider 2 và chúng ta có “higher availibility” của kết nối đến Internet .Tuy nhiên chúng ta cũng có thể hình dung ra rằng rất khó thực hiện load balancing khi mỗi host quyết định gửi packet đi. Chúng ta không đề cập đến làm thế nào để một mạng dùng IP này hay IP khác. Ở đây vấn đề là sẽ sử dụng một “central authority” để quyết định host nào sẽ sử dụng provider nào dĩ nhiên thông qua một special NAT router.Sử dụng Nat máy tính Local của chúng ta chỉ cần một IP.Nếu chúng ta có một provider tin cậy chúng ta có thể sử dụng IP của provider này cung cấp đồng thời vẫn có thể sử dụng các IP bên trong mạng.Bây giờ nếu một host bên trong mạng muốn thiết lập một kết nối mới tới Internet nó chỉ cần gửi packet đến default router (NAT-router) với source IP là IP của host này.Do NAT-router biết được tất cả những kết nối đi ra,nó sẽ quyết định provider để gửi packet đi sao cho tối ưu.Nó sẽ thay source IP là IP của provider đã chọn và gửi packet đến router của provider này.Vì source IP là IP của provider cung cấp nên con đường đi tiếp theo của packet sẽ do provider quyết định thông qua provider router .Host gửi packet đi sẽ không bao giờ biết provider nào được chọn bởI NAT router vì thế xử lý là trong suốt.
Chúng ta có thể sử dụng cùng một giải thuật đã sử dụng cho Virtual server. Điểm khác nhau giữa ứng dụng là ở ứng dụng này chúng ta đã can thiệp vào xử lý routing.

4) Các vấn đề cần giải quyết cho kỹ thuật NAT
Có 5 khái niệm liên quan đến một connection cho NAT đó là:protocol,source IP và port ,Destination IP và port.Vì cơ  chê NAT thay đổi các thông tin trong một packet nên ta có thể tạm chia thành 3 section:
-section 1: tiến trình packet đi từ source đến NAT-router
-section 2: tiến trình packet đi từ NAT-router đến Destination
-section 3: hoạt động diễn ra trong NAT-router,NAT router phải biết cả 2 section 1 và 2
Như vậy chỉ có NAT-router biết những gì thật sự xảy ra cho một packet. Điều đó cũng có nghĩa là NAT-device phải lưu giữ hầu hết thông tin về một kết nối để quyết định con đường đi của packet.
Chúng ta thấy NAT-router phần nào đó giống như một firewall bởi vì nó không chỉ relay packet từ nơi này đến nơi khác ,mà nó còn điều khiển luồng dữ liệu.NAT-router biết nhiều về mỗi kết nối như thể các thiết bị mạng biết về kết nối của nó.Nghĩa là chúng phải lưu giữ thông tin trạng thái .Chúng có thể đọc thông tin từ các packet ,so sánh và thay đổi nó.
* Lưu giữ thông tin trạng thái
Ngoại trừ NAT tĩnh,các cái còn lạI đòi hỏi chúng ta cần phảI lưu trữ và quản lý thông tin động từ client đang sử dụng hệ thống là một router.Thông tin này phảI được mất đi sau một thời gian timeout để NAT-IP được gắn cho một host còn có thể được sử dụng lại.Thời gian timeout cũng là một lý do tạI sao phảI đọc thông tin TCP-header.Timeout có thể ngắn cho một TCP-connection vừa được đóng và cao cho TCP-connection vẫn còn được thiết lập.Ví dụ nhiều telnet session có thể treo trong một thờI gian dài không có sự trao đổI bất kỳ packet nào .Trong trường hợp này,nếu chúng ta có đủ NAT-IP chúng ta không cần ngắt kết nốI này ,nhưng giả sử trong trường hợp nhiều kết nốI mớI được yêu cầu và NAT-IP cần có thêm IP thì chúng ta sẽ cho telnet session này bị chết để lấy lạI IP.
Một cách khác là chúng ta không giữ thông tin trạng thái mà chỉ cần tìm IP chỉ định (NAT-ip) Nó thì đơn giản hơn cho việc hiện thực NAT và trong nhiều trường hợp sẽ làm việc tốt cho các giải quyết ở trên.Khi luôn có đủ NAT-IP còn dư cho việc sử dụng chúng ta không chú ý tới chi tiết khác nhau của 2 cách ,ngoại trừ trong một telnet session hoặc các chương trình liên quan chẳng hạn như ssh.Chỉ khi số NAT-IP không nhiều và không đủ ,chúng ta mới cần lưu giữ thông tin trạng thái vì chúng ta có thể nhận ra ngay chính xác một kết nối vừa mới đóng và có thể lấy lại ngay IP đã cấp phát mà không cần hết thời gian timeout.Việc lưu giữ dấu vết của các kết nối khác nhau phục vụ cho mục đích bảo mật nếu nó được sử dụng bởI firewall, đây không hẳn chỉ là NAT.
Có một số trường hợp việc NAT chỉ truy tìm chỉ IP thì hoàn toàn không hiệu qủa. Đó là trong các ứng dụng virtual server và virtual network bởI vì traffic được sinh ra bởI một IP thì không thể nào phân chia được nữa.Khi chúng ta yêu cầu NAT truy tìm thêm cả TCP/UDP port thì chúng ta có thể cân bằng tảI và giảm traffic tốt hơn bằng  cách remap các kết nốI đến một IP thích hợp
— Xem thêm hình vẽ mô tả trong tài liệu NAT của SuSe —
* Phân chia (fragmentation)
Quan hệ mật thiết vớI việc lưu giữ thông tin trạng thái về TCP và có thể là UDP là vấn đề IP fragment.Nó quyết định việc thay đổI không phảI chỉ IP address mà còn TCP/UDP port.Telnet packet có thể được đốI xử khác vớI HTTP packet.Cho một ví dụ chỉ sử dụng một virtual server hoặc DNS cho tất cả các service nó được map tới các host cung cấp service thực sự ,nhiều service thậm chí được cung cấp bởI virtual host.Một firewall là gateway mức application có thể làm được điều này nhưng gateway thì hầu như là không trong suốt.
Vấn đề là ngay khi một packet được fragment đến NAT-router ,nó không thể cung cấp thông tin về port ngoạI trừ fragment đầu tiên chứa TCP-header. Đó là lý do tạI sao chúng ta phảI lưu giữ những thông tin trạng thái về mỗI fragment.Chúng ta phảI lưu giữ tất cả thông dữ liệu của fragment đầu tiên gồm TCP/UDP port của nó để mà chúng ta có thể biết port của những fragment khác đang hoạt động.Nhiều khi phương pháp này không thích đáng vì IP layer không đảm bảo packet tới với đúng số thứ tự (sequence) Ví dụ fragment thứ 3 của packet đã được fragment có thể đi qua NAT router đầu tiên trước khi fragment đầu tiên vẫn còn lưu giữ thông tin port .Trong trường hợp này chúng ta sẽ ngăn lạI các fragment không phảI là fragment số 1 đến khi fragment số 1 đã tớI đích để chúng ta biết chúng ta có cần phảI thay đổI thông tin của packet hay không .Xem thêm về “IP fragment” ở các tài liệu khác.Việc thay đổI không chỉ IP mà còn TCP/UDP port thì không quan trọng nhưng chắc chắn hữu ích.
Ví dụ chúng ta sử dụng một virtual server .Giả sử chúng ta muốn tạo một virtual webserver và deamon của webserver thật sự đang chạy trên những máy khác nhau và lắng nghe trên những port khác nhau vì một số lý do.Khi đó nếu chúng ta không ghi nhận lạI destination port trong packet , default là port 80 đến virtual server và thay destination port là port mà real webserver đang lắng nghe vào packet reply thì chúng ta không thể có được những gì chúng ta mong muốn.Khi đó tất cả các real webserver phảI lắng nghe trên cùng một port mà virtual server cung cấp dịch vụ web (default là port 80).Xin nói thêm là một TCP connection thực hiện cơ chế handshaking 3 lần như vậy nếu packet reply không chỉ ra đúng port để kết nốI tớI thì kết nốI sẽ không được thiết lập.
* Định ra giao thức (protocol) cụ thể
NAT không phảI luôn luôn trong suốt như đã nói ,nó chỉ hoàn toàn trong suốt khi mà IP là giao thức nắm giữ thông tin về IP của một packet.Có một số giao thức chúng gửI IP là một phần của dữ liệu truyền đi.Như vậy nếu IP này đã được thay đổI vớI NAT router thì chúng ta sẽ gặp nhiều vấn đề trục trặc khi gửI tớI ngườI nhận .Nó không thể đúng IP đã được truyền đi.Một cách giảI quyết cho vấn đề này là tìm thông tin data truyền đi dựa trên một giao thức nào đó để biết được thông tin về IP đã được thêm vào.Qúa trình này chỉ làm thêm overhead và phức tạp hơn.

*Một số ví dụ cho những Protocol làm việc vớI NAT
FTP
FTP command PORT và response PASV cả 2 đều send một IP và port cho đầu kết nốI bên kia .Cho FTP để làm việc vớI một kết nốI đã bị thay đổI chúng ta phảI thay thế IP trong message . Điều này rất phức tạp vì IP và port được truyền đi dướI dạng mã ASSCII mô tả cho một số thập phân.Tức là mỗI số thập phân đơn lẻ được mô tả là một byte trong packet .Vì lý do này IP thì không có một chiều dài cố định trong một FTP-packet, bây giờ chúng ta thay thế IP hiện tạI bởI một IP khác ít hoặc nhiều số hơn ,packet sẽ lớn hoặc nhỏ đi điều này buộc phảI chỉnh lạI TCP –sequence number vì thế chúng ta phảI giữ một số thông tin về những kết nốI này để điều chỉnh các sequence number thích hợp trong mỗI packet . Đây không chỉ là vấn đề cho giao thức FTP mà còn cho nhiều giao thức khác mà khi thay đổI IP thì nó làm thay đổI chiều dài packet
ICMP
Một số ICMP message phụ thuộc vào loạI message ,nếu thêm vào header của packet có thể gây ra những vấn đề .Nếu packet này được thay đổI thì header này sẽ chứa NAT-Ip chứ không phảI IP của host sẽ nhận message ICMP này .Dựa trên điều này nếu bây giờ chúng ta không thay local IP mà là thêm vào NAT-Ip vào header thì điều này sẽ được giảI quyết.
DNS
Dễ thấy vấn đề ở đây là nếu một name service của một IP bên trong muốn cung cấp ra ngoài NAT-domain.Một cách giảI quyết là sẽ dùng 2 DNS service .Một cho việc giảI đáp cho các IP bên trong và một cái khác giảI đáp cho các IP ngoài mạng .Dĩ nhiên các IP được giảI đáp bởI DNS server thứ 2 không được đưa vào danh sách nhóm IP động cho NAT.NAT router thì hầu hết được đặt trên ranh giới giữa các mạng
phân chia internal DNS và external DNS và được mở rộng sử dụng cho lý do bảo mật
Nếu sử dụng một cách tiếp cận phức tạp hơn là ghi lại tất cả các DNS data đã được relay bởI NAT router chúng ta nên sử dụng một gateway mức ứng dụng hơn là hiện thực một NAT bởI vì DNS thích hợp vớI mức gateway hơn và chúng ta chỉ nên tác động tớI kernel khi thật sự cần thiết(xây dựng NAT)
BOOTP
Giao thức này không có vấn đề gì vớI NAT vì nó không đi ra khỏI ranh giớI của một NAT-domain.
Routing Protocol (RIP,EGP…)
Không cần phảI giảI thích tạI sao routing protocol gặp rất nhiều vấn đề vớI NAT .Có nhiều giao thức tìm đường khác nhau và làm việc vớI nó thì không dễ dàng chút nào
Có 3 cách giảI quyết là:
– Không sử dụng những giao thức này ,chỉ sử dụng static routing. Đây là cách chọn lựa tốt cho phần lớn các kết nốI từ mạng chúng ta ra bên ngoài thông qua NAT router
– Sử dụng một gateway mức ứng dụng
– Ghi lạI thông tin của packet

01/08/2007 at 03:45 1 Bình luận

Ai là người thành lập lên VnExpress?

Vnexpress, tờ báo điện tử được mệnh danh là lớn nhất Việt Nam ra đời như thế nào mời các bạn đọc bài viết sau đây được trích trong một cuốn kỷ yếu của FPT. Bài viết được copy từ Blog của bác QuynhNguyen.
Điểm đáng khâm phục nhất ở đây là sự nhìn xa trông rộng của 2 bác Thang Đức Thắng và Trương Đình Anh trong lĩnh vực Internet và nội dung số, có thể có chút may mắn ở đây nhưng mình tin rằng đó cũng là một sự nhạy cảm của những người thông minh, biết nắm cơ hội. Tại thời điểm đó toàn Việt Nam chưa có tới 50.000 người dùng Internet, cước truy cập vừa phải chịu phí điện thoại vừa phải chịu phí Internet, lại chậm như rùa bò trong khi một tờ báo in chỉ có 1 đến 2k, ai có thể nghĩ rằng một tờ báo điện tử có thể thành công và tự nó có thể sống được. Nhưng cho đến nay Vnexpress có hàng triệu lượt người truy cập mỗi ngày, một con số đáng mơ ước ngay cả với truyền hình.

Ngoài ra còn học được từ bác Trương Đình Anh cách tính doanh thu từ quảng cáo để thuyết phục các sếp FPT và cách tuyển người của họ: Je’sBlog

– “Lấy giá quảng cáo trung bình trên một số tờ báo in thông dụng trong nước chia cho diện tích trang báo quảng cáo để ra giá quảng cáo trung bình của một centimét vuông trên báo chí Việt Nam. Từ đó nhân lên diện tích tương ứng của banner và logo để tính ra giá quảng cáo của chúng trên trang báo trực tuyến. Rồi nhân tiếp với số folders (sẽ có) của VnExpress để ra doanh thu dự tính sau 18 tháng. Cộng tiếp với số cước thời gian truy cập gia tăng của khách thuê bao FPT vào xem VnExpress trong tương lai, với tốc độ tăng ước tính là 10% mỗi tháng. Tất cả được trình bày chi tiết theo từng tháng, con số cuối cùng thật ấn tượng và thuyết phục.”

-”IQ, GMAT, English, còn thi chuyên môn – là bài luận bằng tiếng Việt. Sau này, qua những lần tuyển dụng tiếp theo, tôi thấy những người điểm cao nhất thường chính là những những nhân viên có năng lực nhất

Sau đây là toàn bộ nội dung bài viết của bác Thang Đức Thắng – tổng biên tập hiện thời của VnExpress, tổng biên tập đầu tiên là bác Trương Đình Anh. Hai bác này là những người đầu tiên thành lập lên VnExpress.net:

Ý tưởng

Vào một ngày tháng 3 năm 2000, tôi đến dự cuộc họp báo do FPT tổ chức tại 89 Láng Hạ với tư cách phóng viên báo Lao Động. Ngồi cạnh tôi, tình cờ, là Trương Đình Anh, Giám đốc FOX. Chúng tôi quen biết nhau từ cuối năm 1995, khi tôi đến làm cộng tác viên cho FPT. Rồi tôi, đại diện cho báo Lao Động, là một trong những khách thuê bao đầu tiên của FOX, sau đó đưa nội dung hàng ngày của Lao Động sang mạng TTVN.

Trong lúc họp, Đình Anh nói nhỏ:
– Anh xem có thể tìm giúp em một nhà báo chuyên nghiệp có thể về làm nội dung Internet cho FOX?
– Làm cái website của công ty thì cần gì nhà báo chuyên nghiệp? – tôi hỏi lại.
– Không phải website công ty, mà là một portal của Việt Nam.
– Anh sẽ tìm người nào đó xứng đáng trong số đàn em. Nhưng cho biết sơ qua, Đình Anh cần một người như thế nào?
– Cần một người, tốt nhất là… như anh!

Tôi nhìn Đình Anh và thấy anh ta nói hoàn toàn nghiêm túc.

Từ lâu tôi đã có mong muốn làm một tờ báo thực sự có ích cho mọi người. Từ khi làm quen với Internet (năm 1998), tôi nhận ra rằng đây sẽ là mảnh đất chưa khai phá cho báo chí. Mình có thể là người đầu tiên làm điều đó? Nhưng tôi hoàn toàn đơn độc. Những người nghe nói về ý định của tôi đều cười, cho rằng, qua rất nhiều năm nữa người Việt Nam vẫn thích mua một tờ báo in giá 1-2 nghìn đồng đọc “vừa tiện vừa rẻ”, hơn là nhìn vào màn hình tù mù, chạy ậm ạch, phải trả vừa cước điện thoại, vừa cước Internet. Hồi đó, vào đầu năm 2000, cả Việt Nam có chưa đến 50.000 thuê bao Internet. Báo chí thường xuyên kêu la về tình trạng giá cước cao và băng thông hẹp, bao giờ mới tăng được số người dùng Internet.

Sau đó, chúng tôi thường gặp nhau. Đình Anh hay hỏi về công việc làm báo trong toà soạn và tỏ ra hứng thú khi nghe tôi nói.

Lịch sử báo chí cho thấy, những mốc phát triển quan trọng của nó gắn với các phát minh công nghệ, tạo ra các phương tiện phát hành mới. Johann Gutenberg (1400-1468), người đầu tiên in bằng khuôn đúc, đã tạo tiền đề cho báo in ra đời vào đầu thế kỷ 17. Phát kiến về sóng radio đã dẫn đến sự ra đời của đài phát thanh những năm 1920. Ứng dụng truyền hình đã tạo ra các “báo hình” đầu tiên từ thập niên 1940. Và Internet sẽ phải là một phương tiện thông tin đại chúng hoàn toàn mới trong hệ thống báo chí Việt Nam.

“Anh muốn làm cho một ngày nào đó cả nước Việt Nam vào Internet để đọc báo!”, tôi nói. Và có lẽ Đình Anh là người duy nhất ngày ấy đã đồng tình với tôi. “Nhưng không thể với Laodong.com” – Đình Anh nói – “Chỉ với cơ chế như ở FPT, anh mới làm được điều đó…”

Tôi xin cơ quan cho chuyển công tác. Mọi người ở báo Lao Động rất ngạc nhiên. Khi đó tôi là Trưởng ban Thời sự kiêm Trưởng ban Báo Điện tử. Ông Tổng biên tập đề nghị tôi suy nghĩ lại. Cuối cùng, ông đành đồng ý, nhưng với yêu cầu tôi thực hiện nốt phần việc của báo trong công tác tổ chức cuộc thi phần mềm “Trí tuệ Việt Nam”, đến tháng 9 mới xong.

Từ tháng 7 năm 2000, tôi và Đình Anh bắt đầu bàn bạc, nghiên cứu tình hình, lập dự án xây dựng báo trực tuyến. Nó phải có nhiều độc giả, phải tự cân đối tài chính, hay nói cách khác nó phải làm ra tiền bạc. Hai nguồn thu phải là quảng cáo và thời lượng của khách hàng thuê bao vào mạng gia tăng.

Đầu tháng 8/2000, chúng tôi đăng quảng cáo tuyển dụng biên tập viên, phóng viên để “xây dựng một tờ báo trực tuyến lớn nhất VN”. Sau đó mới nghĩ tên cho nó: phải là một cái tên có nghĩa liên quan đến báo chí, liên tưởng đến sự tầm cỡ, tính tích cực. Vài tên đầu tiên chọn đăng ký domain đều đã bị sử dụng. Cuối cùng, đến “VnExpress.net” thì được. Nó cũng hợp với những yêu cầu đặt ra.

Kế hoạch kinh doanh

Từ những phân tích của mỗi người, chúng tôi chuẩn bị làm kế hoạch kinh doanh. Ngày 20/9/2000, chúng tôi bảo vệ kế hoạch đó trước ban TGĐ. Trong bài trình bày, điểm mấu chốt nhất là sẽ thu tiền về bằng cách nào? Dễ thấy rằng đó phải là quảng cáo. Nhưng lấy gì làm căn cứ để xác định doanh số (quảng cáo trên mạng còn là lĩnh vực hoàn toàn mới mẻ)?

Tôi thầm khâm phục Đình Anh đã đưa được ra con số cụ thể dựa vào căn cứ sau: Lấy giá quảng cáo trung bình trên một số tờ báo in thông dụng trong nước chia cho diện tích trang báo quảng cáo để ra giá quảng cáo trung bình của một centimét vuông trên báo chí Việt Nam. Từ đó nhân lên diện tích tương ứng của banner và logo để tính ra giá quảng cáo của chúng trên trang báo trực tuyến. Rồi nhân tiếp với số folders (sẽ có) của VnExpress để ra doanh thu dự tính sau 18 tháng. Cộng tiếp với số cước thời gian truy cập gia tăng của khách thuê bao FPT vào xem VnExpress trong tương lai, với tốc độ tăng ước tính là 10% mỗi tháng. Tất cả được trình bày chi tiết theo từng tháng, con số cuối cùng thật ấn tượng và thuyết phục. Phó TGĐ Lê Quang Tiến nói: “Rất được!”.

Khi biết nội dung tin trong nước của VnExpress thời kỳ đầu sẽ là biên tập từ các báo đài, anh Trương Gia Bình hỏi:
– Cái gì sẽ là khác biệt của các vị?
– Đó là tốc độ cập nhật và phong cách đưa tin. – Tôi đáp, và thấy ngay trong mắt ban TGĐ một sự nghi ngờ. Biên tập lại từ báo in thì làm sao có “tốc độ cập nhật” được? Còn “phong cách đưa tin” thì thật mơ hồ.

Tôi giải trình, nếu tin tức đưa lên vào buổi sáng, song song với thời gian các báo phát hành đến độc giả, nếu nó được lựa chọn (biên tập) tốt từ tất cả những báo hay nhất, thì nó không những nhanh tương đương thông tin của các báo mà còn đầy đủ hơn so với mỗi tờ báo riêng lẻ. Đó chính là tốc độ cập nhật.

Hơn nữa chúng tôi không có lựa chọn khác. Nếu ngay từ đầu thành lập một toà soạn báo với các phóng viên lành nghề, hoạt động săn tin trên cả nước, sẽ cần một khoản đầu tư khổng lồ. Mà rất lãng phí. Vì những ngày đầu đã có độc giả đâu. Báo chí trực tuyến là con số không. VnExpress hoàn toàn là số không. Chẳng khác nào xây ngay một nhà máy điện vĩ đại, rồi chờ dân số phát triển. Cũng chưa có cơ sở pháp lý nào cho VnExpress hoạt động phóng viên: ở Việt Nam chưa có tiền lệ cấp phép hoạt động báo chí cho một công ty, và chưa biết đến bao giờ mới có, các quan chức kiên quyết lắc đầu.

Chúng tôi thấy, con đường để một ngày nào đó VnExpress có diễm phúc được cấp phép là: trước tiên phải làm sao được xã hội dần dần thừa nhận, coi như một chủ thể báo chí đã tồn tại, không thể phớt lờ. Do đó, mục tiêu là làm sao có độc giả. Mà phải bằng cách ít tốn kém nhất. Vậy tại sao không lấy những tờ báo đã phát hành – một nguồn nguyên liệu sẵn có – chế biến nó thành tin tức hữu ích? Chiến lược ban đầu của chúng tôi là: lấy nguồn tài nguyên miễn phí – chế biến thành hàng hoá!

Chế biến bằng hai nguyên tắc: lựa chọn tin tức theo giá trị của nó, và đưa tin một cách khách quan. Điều đó có nghĩa là tin phải được độc giả chờ đón, khi đưa thì chỉ có sự kiện, không có ý kiến áp đặt của phóng viên. Độc giả sẽ tự phán xét sự việc được nêu là tốt hay xấu, ai đúng ai sai. Vì vậy trong các tin bài sẽ không có những câu kiểu như: “Thiết nghĩ phải…”, “Các cơ quan hữu quan cần…”, “Chúng ta nhiệt liệt ủng hộ…”, “Dư luận căm phẫn trước việc làm sai trái như vậy…”, “Công chúng cảm thấy bị xúc phạm bởi…”, “Hỡi những người có lương tri…” v.v…

Khi độc giả đọc tờ báo không có sự áp đặt, họ sẽ cảm thấy được tôn trọng, cảm thấy thoải mái tự do trong tiếp nhận thông tin. Sự tự do đó sẽ gây “nghiện” . Và chúng tôi sẽ có độc giả thường xuyên, trung thành.

Hai nguyên tắc trên chính là “phong cách đưa tin” của chúng tôi. Trên thế giới, nó không có gì mới lạ. Nhưng ở Việt Nam, có thể nói là chưa có tờ báo nào làm thế. Họ không lựa chọn tin chỉ theo giá trị của chúng vì, chủ quan hoặc khách quan, họ thường rơi vào hai cám dỗ sau đây. Một là, đưa những tin chỉ có lợi cho số ít những người lãnh đạo toà soạn (thường là lợi về vật chất). Hai là, đưa những tin tuyên truyền làm vừa lòng các cấp chủ quản (cũng là lợi cho lãnh đạo toà soạn, về chính trị), nhưng không có giá trị cho độc giả.

Ban TGĐ, cuối cùng, đã tin vào chúng tôi. Kế hoạch kinh doanh được thông qua.

Cũng tối hôm đó, 20/9/2000, diễn ra lễ bế mạc trao giải thưởng cuộc thi phần mềm Trí tuệ Việt Nam lần thứ nhất. Tôi có mặt để tham gia nhiệm vụ tổ chức và viết bài phóng sự về buổi lễ đầy cảm xúc ấy. Đó là bài phóng sự cuối cùng của tôi cho báo Lao Động.

Xây dựng

Hồ sơ xin dự tuyển biên tập viên gửi đến chất đầy phòng làm việc của Đình Anh, hơn 900 người. Tôi lần lượt đọc kỹ từng tập, chọn ra 240 người để gọi thi viết, chia thành ba buổi vào các ngày 3-4/10. Tôi nghĩ, cách làm báo sẽ khác nhiều so với các báo trong nước, do đó không nhất thiết phải tuyển những người có kinh nghiệm phóng viên. Cần những người thông minh – để tiếp thu mọi việc nhanh chóng và có nhiều ý tưởng; cần tiếng Anh – ngoài những ích lợi thông thường, những người có ngoại ngữ còn có văn phạm chuẩn hơn; và cần văn phong tiếng Việt tốt.

Do đó tôi rất mừng khi thấy quy trình thi tuyển của FPT cũng đúng như thế: IQ, GMAT, English, còn thi chuyên môn – là bài luận bằng tiếng Việt. Sau này, qua những lần tuyển dụng tiếp theo, tôi thấy những người điểm cao nhất thường chính là những những nhân viên có năng lực nhất. Vì thế tôi rất tín nhiệm quy trình thi của công ty và chân thành biết ơn các cán bộ của Phòng nhân sự đã giúp tôi tiến hành tất cả các cuộc thi và chấm thi.

Có hôm, trong phòng thi viết, tôi cầm một đề IQ thử giải, thấy nhiều câu chẳng biết làm thế nào. Nghĩ thầm, “thằng nào ra đề vớ vẩn thật”. Sau này, có lần một em phóng viên VnExpress thật thà hỏi tôi: “Hồi anh vào FPT có phải thi IQ không ạ?”. Tôi bảo: “Nếu anh mà phải thi IQ thì bây giờ chắc không có bọn em ở đây”.

Tôi chấm tất cả hơn 900 bài luận văn, hết gần một tuần. Tôi đọc từng dòng, cố gắng tìm được nhiều thông tin nhất về khả năng, và có thể là cả tính cách nữa, của người viết.

Trong khi đó Đình Anh ráo riết thúc đẩy thi công thêm 200 m2 diện tích văn phòng trong khu nhà 75 Trần Hưng Đạo. 120 m2 sẽ dành cho VnExpress. Nói “xây dựng VnExpress từ số không” quả là đúng cả về nghĩa bóng lẫn nghĩa đen.

Từ 12/10, tôi và Đình Anh phỏng vấn 90 ứng viên được mời sau vòng thi viết. Ba ngày liền chúng tôi hầu như ngồi lỳ trong phòng phỏng vấn từ sáng đến chiều…

Hơn 20 người được tuyển dụng tập trung lần đầu tiên vào ngày 30/10. Tại phòng họp tầng 2 ở 89 Láng Hạ, tôi mời họ ngồi thành vòng tròn. Mỗi người lần lượt giới thiệu về mình – quá trình học tập, công tác trước đây, năng lực sở trường… Nhờ đó họ nhanh chóng trở nên thân thiện, gần gũi nhau. Phần lớn là những người vừa tốt nghiệp đại học, rất trẻ, chưa làm báo bao giờ. Đó là những người thông minh nhất mà tôi có thể có được vào thời điểm đó.

Tôi cũng đứng lên tự giới thiệu, nói về kế hoạch xây dựng VnExpress. “Tôi sẽ làm cho các bạn trở thành các nhà báo. Đến ngày nào đó, những gì các bạn viết ra sẽ có hàng nghìn người đọc. Rồi nhiều hơn thế, và có thể ở nhiều nước trên khắp thế giới. Đến ngày nào đó, trên các màn hình máy tính ở mọi nơi sẽ thường xuyên hiện lên cái tên VnExpress…”. Tôi nhìn vào mắt họ, và nghĩ, có lẽ họ tin tôi.

Tiếp đó là hai tuần đào tạo nghiệp vụ báo chí.
Diện tích xây thêm ở 75 Trần Hưng Đạo đang định hình từng ngày.
Đình Anh bắt tay vào viết phần mềm biên tập VnExpress. Trong đó có một số yếu tố sẽ mang tính cách mạng đối với báo chí Việt Nam.

Trước hết, đó là cách thức phát hành mỗi bài báo theo con đường độc lập của nó. Tức là các bài báo sẽ không chờ đợi trang báo của nó (ví dụ bài về văn hoá thì phải chờ các bài khác để lên layout trang Văn hoá hoàn chỉnh), và các trang sẽ không chờ đợi số báo của nó. Trước đó, khi nói đến báo chí, nhất thiết người ta phải nói đến tính định kỳ của nó: “Báo của anh là ra hàng tháng, hay bán nguyệt san, hay tuần báo, hay ra hàng ngày?…”. Định nghĩa báo, tạp chí trong giáo trình khoa Báo chí Đại học QG Hà Nội viết: “Báo, tạp chí là một loại hình thông tin đại chúng thực hiện các chức năng cơ bản như thông tin, định hướng dư luận, giải trí…, và được phát hành định kỳ”. Thậm chí các báo điện tử tồn tại trước đó cũng lên mạng theo “số báo”. Ví dụ, người ta còn viết: “báo Nhân Dân Điện tử số ra ngày…”(!). Cách thức xuất bản VnExpress sẽ thể hiện đặc thù phi định kỳ của báo trực tuyến, và đó chính là lợi thế về tốc độ cập nhật thông tin.

Thứ hai, phần mềm này phải cho phép thực hiện một loại hình gọi là “bài báo mở” – tức là bài báo sau khi đã phát hành vẫn còn tiếp tục được cập nhật. Với khả năng đó, VnExpress sau này đã có các hình thức bài “Tường thuật trực tiếp” và “Phỏng vấn trực tuyến”.

Thứ ba, cấu trúc website phải giúp giải quyết “bài toán trang nhất”. Ngay từ ngày báo in ra đời đến nay, các biên tập viên luôn luôn đương đầu với mâu thuẫn là: làm sao đưa được hết những cái hay nhất của số báo ra trang nhất để mời chào độc giả. Tờ báo càng hay thì càng không thể đưa được hết nội dung ra ngoài. Nhiều tờ báo hiện nay tìm mọi cách cắt xén các bài gần như chỉ còn lại headlines để đưa ra manh mún trên trang nhất. Với báo trực tuyến, trang nhất còn tệ hại hơn, nhỏ hơn: chỉ còn bằng màn hình. Nhiều websites đã cố đưa ra trang home hàng chục, thậm chí cả trăm tít bài, nhưng vẫn không hấp dẫn được độc giả.

Chúng tôi chọn nguyên tắc “Nắm cỏ thơm cho con lừa”. Nghĩa là chỉ bằng một nắm cỏ nhỏ bé, nhưng thơm ngon nhất, để dụ con lừa vào kho cỏ mênh mông, trù phú bên trong. Hình tượng “con lừa” ở đây hoàn toàn không có ý coi thường độc giả, mà chỉ là thuật ngữ nói lên tính thụ động của người đọc: họ không có nhiệm vụ phải đọc báo của bạn, họ thụ động và lười đọc báo của bạn vì còn có nhiều thứ hấp dẫn khác.

Do đó mỗi trang chuyên đề bên trong VnExpress chỉ được giới thiệu ra trang nhất một headline với đoạn đầu bài mà chúng tôi gọi là “lead”. Việc lựa chọn tin nào, đặt cho nó tựa đề gì, và lead viết ra sao sẽ có thể quyết định số phận của cả trang trong. Tất cả phụ thuộc vào trình độ của biên tập viên.

Tiếp nữa, font chữ trước đó luôn là vấn đề đau đầu của các websites tiếng Việt. Giải pháp của Đình Anh là mạnh dạn chọn Unicode, và VnExpress là website Việt Nam đầu tiên dùng font này.

Ngày 22/11, chúng tôi tiếp quản Newsroom của mình – cả tầng ba vừa xây xong ở 75 Trần Hưng Đạo. Hàng ngày thực tập làm tin, nhưng không đăng đi đâu – chờ chương trình. Mấy tháng liền Đình Anh ngồi một mình viết chương trình. Ngày nào cũng đến 7-8 giờ tối. Có lần đổ ốm, sốt cao mấy ngày.

Ngày 4/12, chúng tôi bắt đầu tập làm tin bằng phần mềm chạy thử mới viết xong. Thỉnh thoảng lại “chết”. Có người bối rối: “Tốc độ chạy thử thế này, đến Noel lên mạng được là may”. Quả thật – đã không may, đến tận ra Tết, 15/2/2001 VnExpress Editor mới được hoàn chỉnh, nhưng vẫn phải chạy thử.

Ra mắt

Cuối cùng, ngày 26/2, mặc dù còn khiếm khuyết, chúng tôi quyết định “phóng” VnExpress lên Internet.

Đó là một ngày thầm lặng, như những ngày làm việc bình thường khác. Không quảng cáo trên báo chí, không có lễ khai trương, diễn văn và champagne. Chỉ có một thông báo qua e-mail cho các khách hàng của FPT Internet. Nhưng đó là một ngày trọng đại của VnExpress. Chúng tôi bắt đầu theo dõi từng ngày xem có bao nhiêu hits. Liệu những nắm cỏ thơm của chúng tôi có mời chào được ai không? Liệu người ta có hiểu ý chúng tôi để click vào xem tiếp những trang trong? Liệu những tính toán của chúng tôi có đúng không? Hay mọi công sức đều đổ đi hết?… Một trăm, rồi hai trăm máy tính truy cập trong một ngày… Tôi ngồi trước máy tính của mình, muốn nói: “Hãy vào xem đi các vị. Sẽ có nhiều thông tin hữu ích đấy. Hãy xem đi, các vị sẽ hiểu chúng tôi và yêu mến chúng tôi”.

Sau tuần đầu, số máy tính truy cập trong một ngày đạt mức 1.000. Các biên tập viên trẻ của tôi ngỡ ngàng vui mừng. Tin họ vừa biên dịch xong có những 1.000 người đọc. Một tuần sau, số độc giả hằng ngày đã tăng gấp đôi… Sau nửa năm, VnExpress có 300.000 độc giả… Phần lớn thư bạn đọc kể rằng họ biết đến VnExpress là nhờ bạn bè giới thiệu.

Đó là những ngày đầu tiên trên con đường tiến tới được xã hội chấp nhận, rồi đến chính quyền phải xem xét lại các quy chế về quản lý báo chí, rồi mở ra những hành lang mới để thừa nhận VnExpress về mặt pháp lý. Qua những ngày đó mới hiểu, tại sao ngày 25/11/2002, khi cầm trên tay tờ giấy màu vàng giản đơn ghi dòng chữ “Giấy phép hoạt động báo điện tử số 511/GP – BVHTT”, Đình Anh đã nói: “Tôi thực sự xúc động”.

Sau đó, VnExpress được báo giới Việt Nam bình chọn là một trong 10 sự kiện nổi bật trong lĩnh vực công nghệ thông tin của năm 2002 “do đã thực sự là một biểu tượng cho sự phát triển nội dung Internet ở Việt Nam”.

Những người viết sử thường nhấn mạnh những gian truân lúc sơ khai để đề cao sự việc. Nhìn lại sự ra đời của VnExpress, tôi thấy hầu như không có gian truân gì. Mọi việc nói chung đã diễn ra đúng hoạch định, nhẹ nhàng và thuận lợi. Phần lớn những thuận lợi có được là do cơ chế của FPT. Tôi thấy mình đã may mắn đến với FPT, đã may mắn có những người cộng sự và đồng nghiệp như hiện nay. (Trong trang sử ký này tôi không nêu nhiều tên người, vì như vậy sẽ rất nhiều: để làm tờ báo, cần có một tập thể lớn).

Tôi không hề nghĩ VnExpress là to tát. Ngược lại, tôi thực lòng mong rằng, sau này nhìn lại thấy VnExpress chỉ là một mầm non ban đầu, qua năm tháng biến thành cây đại thụ nhiều cành nhánh sum suê. Cây đại thụ đó chính là hệ thống các phương tiện thông tin đại chúng hùng mạnh dưới sự điều khiển của tập đoàn FPT.

31/07/2007 at 20:16 3 comments

Dọn dẹp lại máy tính sau khi lĩnh đạn từ Virus

Tải BKAV về rồi diệt virus đã,sau khi xong .Tải file này về để enable Regedit
http://manbaibang.googlepages.com/enableregedit.vbs
Sau khi enable regedit thì mới có thể làm các thao tác khác trên regedit
Tải file này về để Enable Task Manager
http://manbaibang.googlepages.com/enabletaskmgr.reg
Tải file này về để Show Folder Options
http://manbaibang.googlepages.com/showfolderoptions.reg
Tải file này về,giải nén và chạy tất cả các file .reg trong đó để Show Hidden và show super Hidden (system files) http://manbaibang.googlepages.com/showhidden.zip

30/07/2007 at 17:15 2 comments

Post cũ hơn


Chuyên mục

  • Blogroll

  • Feeds