Archive for Tháng Bảy, 2007
Ai là người thành lập lên VnExpress?
Vnexpress, tờ báo điện tử được mệnh danh là lớn nhất Việt Nam ra đời như thế nào mời các bạn đọc bài viết sau đây được trích trong một cuốn kỷ yếu của FPT. Bài viết được copy từ Blog của bác QuynhNguyen.
Điểm đáng khâm phục nhất ở đây là sự nhìn xa trông rộng của 2 bác Thang Đức Thắng và Trương Đình Anh trong lĩnh vực Internet và nội dung số, có thể có chút may mắn ở đây nhưng mình tin rằng đó cũng là một sự nhạy cảm của những người thông minh, biết nắm cơ hội. Tại thời điểm đó toàn Việt Nam chưa có tới 50.000 người dùng Internet, cước truy cập vừa phải chịu phí điện thoại vừa phải chịu phí Internet, lại chậm như rùa bò trong khi một tờ báo in chỉ có 1 đến 2k, ai có thể nghĩ rằng một tờ báo điện tử có thể thành công và tự nó có thể sống được. Nhưng cho đến nay Vnexpress có hàng triệu lượt người truy cập mỗi ngày, một con số đáng mơ ước ngay cả với truyền hình.
Ngoài ra còn học được từ bác Trương Đình Anh cách tính doanh thu từ quảng cáo để thuyết phục các sếp FPT và cách tuyển người của họ: Je’sBlog
- “Lấy giá quảng cáo trung bình trên một số tờ báo in thông dụng trong nước chia cho diện tích trang báo quảng cáo để ra giá quảng cáo trung bình của một centimét vuông trên báo chí Việt Nam. Từ đó nhân lên diện tích tương ứng của banner và logo để tính ra giá quảng cáo của chúng trên trang báo trực tuyến. Rồi nhân tiếp với số folders (sẽ có) của VnExpress để ra doanh thu dự tính sau 18 tháng. Cộng tiếp với số cước thời gian truy cập gia tăng của khách thuê bao FPT vào xem VnExpress trong tương lai, với tốc độ tăng ước tính là 10% mỗi tháng. Tất cả được trình bày chi tiết theo từng tháng, con số cuối cùng thật ấn tượng và thuyết phục.”
-”IQ, GMAT, English, còn thi chuyên môn – là bài luận bằng tiếng Việt. Sau này, qua những lần tuyển dụng tiếp theo, tôi thấy những người điểm cao nhất thường chính là những những nhân viên có năng lực nhất“
Sau đây là toàn bộ nội dung bài viết của bác Thang Đức Thắng – tổng biên tập hiện thời của VnExpress, tổng biên tập đầu tiên là bác Trương Đình Anh. Hai bác này là những người đầu tiên thành lập lên VnExpress.net:
Ý tưởng
Vào một ngày tháng 3 năm 2000, tôi đến dự cuộc họp báo do FPT tổ chức tại 89 Láng Hạ với tư cách phóng viên báo Lao Động. Ngồi cạnh tôi, tình cờ, là Trương Đình Anh, Giám đốc FOX. Chúng tôi quen biết nhau từ cuối năm 1995, khi tôi đến làm cộng tác viên cho FPT. Rồi tôi, đại diện cho báo Lao Động, là một trong những khách thuê bao đầu tiên của FOX, sau đó đưa nội dung hàng ngày của Lao Động sang mạng TTVN.
Trong lúc họp, Đình Anh nói nhỏ:
- Anh xem có thể tìm giúp em một nhà báo chuyên nghiệp có thể về làm nội dung Internet cho FOX?
- Làm cái website của công ty thì cần gì nhà báo chuyên nghiệp? – tôi hỏi lại.
- Không phải website công ty, mà là một portal của Việt Nam.
- Anh sẽ tìm người nào đó xứng đáng trong số đàn em. Nhưng cho biết sơ qua, Đình Anh cần một người như thế nào?
- Cần một người, tốt nhất là… như anh!
Tôi nhìn Đình Anh và thấy anh ta nói hoàn toàn nghiêm túc.
Từ lâu tôi đã có mong muốn làm một tờ báo thực sự có ích cho mọi người. Từ khi làm quen với Internet (năm 1998), tôi nhận ra rằng đây sẽ là mảnh đất chưa khai phá cho báo chí. Mình có thể là người đầu tiên làm điều đó? Nhưng tôi hoàn toàn đơn độc. Những người nghe nói về ý định của tôi đều cười, cho rằng, qua rất nhiều năm nữa người Việt Nam vẫn thích mua một tờ báo in giá 1-2 nghìn đồng đọc “vừa tiện vừa rẻ”, hơn là nhìn vào màn hình tù mù, chạy ậm ạch, phải trả vừa cước điện thoại, vừa cước Internet. Hồi đó, vào đầu năm 2000, cả Việt Nam có chưa đến 50.000 thuê bao Internet. Báo chí thường xuyên kêu la về tình trạng giá cước cao và băng thông hẹp, bao giờ mới tăng được số người dùng Internet.
Sau đó, chúng tôi thường gặp nhau. Đình Anh hay hỏi về công việc làm báo trong toà soạn và tỏ ra hứng thú khi nghe tôi nói.
Lịch sử báo chí cho thấy, những mốc phát triển quan trọng của nó gắn với các phát minh công nghệ, tạo ra các phương tiện phát hành mới. Johann Gutenberg (1400-1468), người đầu tiên in bằng khuôn đúc, đã tạo tiền đề cho báo in ra đời vào đầu thế kỷ 17. Phát kiến về sóng radio đã dẫn đến sự ra đời của đài phát thanh những năm 1920. Ứng dụng truyền hình đã tạo ra các “báo hình” đầu tiên từ thập niên 1940. Và Internet sẽ phải là một phương tiện thông tin đại chúng hoàn toàn mới trong hệ thống báo chí Việt Nam.
“Anh muốn làm cho một ngày nào đó cả nước Việt Nam vào Internet để đọc báo!”, tôi nói. Và có lẽ Đình Anh là người duy nhất ngày ấy đã đồng tình với tôi. “Nhưng không thể với Laodong.com” – Đình Anh nói – “Chỉ với cơ chế như ở FPT, anh mới làm được điều đó…”
Tôi xin cơ quan cho chuyển công tác. Mọi người ở báo Lao Động rất ngạc nhiên. Khi đó tôi là Trưởng ban Thời sự kiêm Trưởng ban Báo Điện tử. Ông Tổng biên tập đề nghị tôi suy nghĩ lại. Cuối cùng, ông đành đồng ý, nhưng với yêu cầu tôi thực hiện nốt phần việc của báo trong công tác tổ chức cuộc thi phần mềm “Trí tuệ Việt Nam”, đến tháng 9 mới xong.
Từ tháng 7 năm 2000, tôi và Đình Anh bắt đầu bàn bạc, nghiên cứu tình hình, lập dự án xây dựng báo trực tuyến. Nó phải có nhiều độc giả, phải tự cân đối tài chính, hay nói cách khác nó phải làm ra tiền bạc. Hai nguồn thu phải là quảng cáo và thời lượng của khách hàng thuê bao vào mạng gia tăng.
Đầu tháng 8/2000, chúng tôi đăng quảng cáo tuyển dụng biên tập viên, phóng viên để “xây dựng một tờ báo trực tuyến lớn nhất VN”. Sau đó mới nghĩ tên cho nó: phải là một cái tên có nghĩa liên quan đến báo chí, liên tưởng đến sự tầm cỡ, tính tích cực. Vài tên đầu tiên chọn đăng ký domain đều đã bị sử dụng. Cuối cùng, đến “VnExpress.net” thì được. Nó cũng hợp với những yêu cầu đặt ra.
Kế hoạch kinh doanh
Từ những phân tích của mỗi người, chúng tôi chuẩn bị làm kế hoạch kinh doanh. Ngày 20/9/2000, chúng tôi bảo vệ kế hoạch đó trước ban TGĐ. Trong bài trình bày, điểm mấu chốt nhất là sẽ thu tiền về bằng cách nào? Dễ thấy rằng đó phải là quảng cáo. Nhưng lấy gì làm căn cứ để xác định doanh số (quảng cáo trên mạng còn là lĩnh vực hoàn toàn mới mẻ)?
Tôi thầm khâm phục Đình Anh đã đưa được ra con số cụ thể dựa vào căn cứ sau: Lấy giá quảng cáo trung bình trên một số tờ báo in thông dụng trong nước chia cho diện tích trang báo quảng cáo để ra giá quảng cáo trung bình của một centimét vuông trên báo chí Việt Nam. Từ đó nhân lên diện tích tương ứng của banner và logo để tính ra giá quảng cáo của chúng trên trang báo trực tuyến. Rồi nhân tiếp với số folders (sẽ có) của VnExpress để ra doanh thu dự tính sau 18 tháng. Cộng tiếp với số cước thời gian truy cập gia tăng của khách thuê bao FPT vào xem VnExpress trong tương lai, với tốc độ tăng ước tính là 10% mỗi tháng. Tất cả được trình bày chi tiết theo từng tháng, con số cuối cùng thật ấn tượng và thuyết phục. Phó TGĐ Lê Quang Tiến nói: “Rất được!”.
Khi biết nội dung tin trong nước của VnExpress thời kỳ đầu sẽ là biên tập từ các báo đài, anh Trương Gia Bình hỏi:
- Cái gì sẽ là khác biệt của các vị?
- Đó là tốc độ cập nhật và phong cách đưa tin. – Tôi đáp, và thấy ngay trong mắt ban TGĐ một sự nghi ngờ. Biên tập lại từ báo in thì làm sao có “tốc độ cập nhật” được? Còn “phong cách đưa tin” thì thật mơ hồ.
Tôi giải trình, nếu tin tức đưa lên vào buổi sáng, song song với thời gian các báo phát hành đến độc giả, nếu nó được lựa chọn (biên tập) tốt từ tất cả những báo hay nhất, thì nó không những nhanh tương đương thông tin của các báo mà còn đầy đủ hơn so với mỗi tờ báo riêng lẻ. Đó chính là tốc độ cập nhật.
Hơn nữa chúng tôi không có lựa chọn khác. Nếu ngay từ đầu thành lập một toà soạn báo với các phóng viên lành nghề, hoạt động săn tin trên cả nước, sẽ cần một khoản đầu tư khổng lồ. Mà rất lãng phí. Vì những ngày đầu đã có độc giả đâu. Báo chí trực tuyến là con số không. VnExpress hoàn toàn là số không. Chẳng khác nào xây ngay một nhà máy điện vĩ đại, rồi chờ dân số phát triển. Cũng chưa có cơ sở pháp lý nào cho VnExpress hoạt động phóng viên: ở Việt Nam chưa có tiền lệ cấp phép hoạt động báo chí cho một công ty, và chưa biết đến bao giờ mới có, các quan chức kiên quyết lắc đầu.
Chúng tôi thấy, con đường để một ngày nào đó VnExpress có diễm phúc được cấp phép là: trước tiên phải làm sao được xã hội dần dần thừa nhận, coi như một chủ thể báo chí đã tồn tại, không thể phớt lờ. Do đó, mục tiêu là làm sao có độc giả. Mà phải bằng cách ít tốn kém nhất. Vậy tại sao không lấy những tờ báo đã phát hành – một nguồn nguyên liệu sẵn có – chế biến nó thành tin tức hữu ích? Chiến lược ban đầu của chúng tôi là: lấy nguồn tài nguyên miễn phí – chế biến thành hàng hoá!
Chế biến bằng hai nguyên tắc: lựa chọn tin tức theo giá trị của nó, và đưa tin một cách khách quan. Điều đó có nghĩa là tin phải được độc giả chờ đón, khi đưa thì chỉ có sự kiện, không có ý kiến áp đặt của phóng viên. Độc giả sẽ tự phán xét sự việc được nêu là tốt hay xấu, ai đúng ai sai. Vì vậy trong các tin bài sẽ không có những câu kiểu như: “Thiết nghĩ phải…”, “Các cơ quan hữu quan cần…”, “Chúng ta nhiệt liệt ủng hộ…”, “Dư luận căm phẫn trước việc làm sai trái như vậy…”, “Công chúng cảm thấy bị xúc phạm bởi…”, “Hỡi những người có lương tri…” v.v…
Khi độc giả đọc tờ báo không có sự áp đặt, họ sẽ cảm thấy được tôn trọng, cảm thấy thoải mái tự do trong tiếp nhận thông tin. Sự tự do đó sẽ gây “nghiện” . Và chúng tôi sẽ có độc giả thường xuyên, trung thành.
Hai nguyên tắc trên chính là “phong cách đưa tin” của chúng tôi. Trên thế giới, nó không có gì mới lạ. Nhưng ở Việt Nam, có thể nói là chưa có tờ báo nào làm thế. Họ không lựa chọn tin chỉ theo giá trị của chúng vì, chủ quan hoặc khách quan, họ thường rơi vào hai cám dỗ sau đây. Một là, đưa những tin chỉ có lợi cho số ít những người lãnh đạo toà soạn (thường là lợi về vật chất). Hai là, đưa những tin tuyên truyền làm vừa lòng các cấp chủ quản (cũng là lợi cho lãnh đạo toà soạn, về chính trị), nhưng không có giá trị cho độc giả.
Ban TGĐ, cuối cùng, đã tin vào chúng tôi. Kế hoạch kinh doanh được thông qua.
Cũng tối hôm đó, 20/9/2000, diễn ra lễ bế mạc trao giải thưởng cuộc thi phần mềm Trí tuệ Việt Nam lần thứ nhất. Tôi có mặt để tham gia nhiệm vụ tổ chức và viết bài phóng sự về buổi lễ đầy cảm xúc ấy. Đó là bài phóng sự cuối cùng của tôi cho báo Lao Động.
Xây dựng
Hồ sơ xin dự tuyển biên tập viên gửi đến chất đầy phòng làm việc của Đình Anh, hơn 900 người. Tôi lần lượt đọc kỹ từng tập, chọn ra 240 người để gọi thi viết, chia thành ba buổi vào các ngày 3-4/10. Tôi nghĩ, cách làm báo sẽ khác nhiều so với các báo trong nước, do đó không nhất thiết phải tuyển những người có kinh nghiệm phóng viên. Cần những người thông minh – để tiếp thu mọi việc nhanh chóng và có nhiều ý tưởng; cần tiếng Anh – ngoài những ích lợi thông thường, những người có ngoại ngữ còn có văn phạm chuẩn hơn; và cần văn phong tiếng Việt tốt.
Do đó tôi rất mừng khi thấy quy trình thi tuyển của FPT cũng đúng như thế: IQ, GMAT, English, còn thi chuyên môn – là bài luận bằng tiếng Việt. Sau này, qua những lần tuyển dụng tiếp theo, tôi thấy những người điểm cao nhất thường chính là những những nhân viên có năng lực nhất. Vì thế tôi rất tín nhiệm quy trình thi của công ty và chân thành biết ơn các cán bộ của Phòng nhân sự đã giúp tôi tiến hành tất cả các cuộc thi và chấm thi.
Có hôm, trong phòng thi viết, tôi cầm một đề IQ thử giải, thấy nhiều câu chẳng biết làm thế nào. Nghĩ thầm, “thằng nào ra đề vớ vẩn thật”. Sau này, có lần một em phóng viên VnExpress thật thà hỏi tôi: “Hồi anh vào FPT có phải thi IQ không ạ?”. Tôi bảo: “Nếu anh mà phải thi IQ thì bây giờ chắc không có bọn em ở đây”.
Tôi chấm tất cả hơn 900 bài luận văn, hết gần một tuần. Tôi đọc từng dòng, cố gắng tìm được nhiều thông tin nhất về khả năng, và có thể là cả tính cách nữa, của người viết.
Trong khi đó Đình Anh ráo riết thúc đẩy thi công thêm 200 m2 diện tích văn phòng trong khu nhà 75 Trần Hưng Đạo. 120 m2 sẽ dành cho VnExpress. Nói “xây dựng VnExpress từ số không” quả là đúng cả về nghĩa bóng lẫn nghĩa đen.
Từ 12/10, tôi và Đình Anh phỏng vấn 90 ứng viên được mời sau vòng thi viết. Ba ngày liền chúng tôi hầu như ngồi lỳ trong phòng phỏng vấn từ sáng đến chiều…
Hơn 20 người được tuyển dụng tập trung lần đầu tiên vào ngày 30/10. Tại phòng họp tầng 2 ở 89 Láng Hạ, tôi mời họ ngồi thành vòng tròn. Mỗi người lần lượt giới thiệu về mình – quá trình học tập, công tác trước đây, năng lực sở trường… Nhờ đó họ nhanh chóng trở nên thân thiện, gần gũi nhau. Phần lớn là những người vừa tốt nghiệp đại học, rất trẻ, chưa làm báo bao giờ. Đó là những người thông minh nhất mà tôi có thể có được vào thời điểm đó.
Tôi cũng đứng lên tự giới thiệu, nói về kế hoạch xây dựng VnExpress. “Tôi sẽ làm cho các bạn trở thành các nhà báo. Đến ngày nào đó, những gì các bạn viết ra sẽ có hàng nghìn người đọc. Rồi nhiều hơn thế, và có thể ở nhiều nước trên khắp thế giới. Đến ngày nào đó, trên các màn hình máy tính ở mọi nơi sẽ thường xuyên hiện lên cái tên VnExpress…”. Tôi nhìn vào mắt họ, và nghĩ, có lẽ họ tin tôi.
Tiếp đó là hai tuần đào tạo nghiệp vụ báo chí.
Diện tích xây thêm ở 75 Trần Hưng Đạo đang định hình từng ngày.
Đình Anh bắt tay vào viết phần mềm biên tập VnExpress. Trong đó có một số yếu tố sẽ mang tính cách mạng đối với báo chí Việt Nam.
Trước hết, đó là cách thức phát hành mỗi bài báo theo con đường độc lập của nó. Tức là các bài báo sẽ không chờ đợi trang báo của nó (ví dụ bài về văn hoá thì phải chờ các bài khác để lên layout trang Văn hoá hoàn chỉnh), và các trang sẽ không chờ đợi số báo của nó. Trước đó, khi nói đến báo chí, nhất thiết người ta phải nói đến tính định kỳ của nó: “Báo của anh là ra hàng tháng, hay bán nguyệt san, hay tuần báo, hay ra hàng ngày?…”. Định nghĩa báo, tạp chí trong giáo trình khoa Báo chí Đại học QG Hà Nội viết: “Báo, tạp chí là một loại hình thông tin đại chúng thực hiện các chức năng cơ bản như thông tin, định hướng dư luận, giải trí…, và được phát hành định kỳ”. Thậm chí các báo điện tử tồn tại trước đó cũng lên mạng theo “số báo”. Ví dụ, người ta còn viết: “báo Nhân Dân Điện tử số ra ngày…”(!). Cách thức xuất bản VnExpress sẽ thể hiện đặc thù phi định kỳ của báo trực tuyến, và đó chính là lợi thế về tốc độ cập nhật thông tin.
Thứ hai, phần mềm này phải cho phép thực hiện một loại hình gọi là “bài báo mở” – tức là bài báo sau khi đã phát hành vẫn còn tiếp tục được cập nhật. Với khả năng đó, VnExpress sau này đã có các hình thức bài “Tường thuật trực tiếp” và “Phỏng vấn trực tuyến”.
Thứ ba, cấu trúc website phải giúp giải quyết “bài toán trang nhất”. Ngay từ ngày báo in ra đời đến nay, các biên tập viên luôn luôn đương đầu với mâu thuẫn là: làm sao đưa được hết những cái hay nhất của số báo ra trang nhất để mời chào độc giả. Tờ báo càng hay thì càng không thể đưa được hết nội dung ra ngoài. Nhiều tờ báo hiện nay tìm mọi cách cắt xén các bài gần như chỉ còn lại headlines để đưa ra manh mún trên trang nhất. Với báo trực tuyến, trang nhất còn tệ hại hơn, nhỏ hơn: chỉ còn bằng màn hình. Nhiều websites đã cố đưa ra trang home hàng chục, thậm chí cả trăm tít bài, nhưng vẫn không hấp dẫn được độc giả.
Chúng tôi chọn nguyên tắc “Nắm cỏ thơm cho con lừa”. Nghĩa là chỉ bằng một nắm cỏ nhỏ bé, nhưng thơm ngon nhất, để dụ con lừa vào kho cỏ mênh mông, trù phú bên trong. Hình tượng “con lừa” ở đây hoàn toàn không có ý coi thường độc giả, mà chỉ là thuật ngữ nói lên tính thụ động của người đọc: họ không có nhiệm vụ phải đọc báo của bạn, họ thụ động và lười đọc báo của bạn vì còn có nhiều thứ hấp dẫn khác.
Do đó mỗi trang chuyên đề bên trong VnExpress chỉ được giới thiệu ra trang nhất một headline với đoạn đầu bài mà chúng tôi gọi là “lead”. Việc lựa chọn tin nào, đặt cho nó tựa đề gì, và lead viết ra sao sẽ có thể quyết định số phận của cả trang trong. Tất cả phụ thuộc vào trình độ của biên tập viên.
Tiếp nữa, font chữ trước đó luôn là vấn đề đau đầu của các websites tiếng Việt. Giải pháp của Đình Anh là mạnh dạn chọn Unicode, và VnExpress là website Việt Nam đầu tiên dùng font này.
Ngày 22/11, chúng tôi tiếp quản Newsroom của mình – cả tầng ba vừa xây xong ở 75 Trần Hưng Đạo. Hàng ngày thực tập làm tin, nhưng không đăng đi đâu – chờ chương trình. Mấy tháng liền Đình Anh ngồi một mình viết chương trình. Ngày nào cũng đến 7-8 giờ tối. Có lần đổ ốm, sốt cao mấy ngày.
Ngày 4/12, chúng tôi bắt đầu tập làm tin bằng phần mềm chạy thử mới viết xong. Thỉnh thoảng lại “chết”. Có người bối rối: “Tốc độ chạy thử thế này, đến Noel lên mạng được là may”. Quả thật – đã không may, đến tận ra Tết, 15/2/2001 VnExpress Editor mới được hoàn chỉnh, nhưng vẫn phải chạy thử.
Ra mắt
Cuối cùng, ngày 26/2, mặc dù còn khiếm khuyết, chúng tôi quyết định “phóng” VnExpress lên Internet.
Đó là một ngày thầm lặng, như những ngày làm việc bình thường khác. Không quảng cáo trên báo chí, không có lễ khai trương, diễn văn và champagne. Chỉ có một thông báo qua e-mail cho các khách hàng của FPT Internet. Nhưng đó là một ngày trọng đại của VnExpress. Chúng tôi bắt đầu theo dõi từng ngày xem có bao nhiêu hits. Liệu những nắm cỏ thơm của chúng tôi có mời chào được ai không? Liệu người ta có hiểu ý chúng tôi để click vào xem tiếp những trang trong? Liệu những tính toán của chúng tôi có đúng không? Hay mọi công sức đều đổ đi hết?… Một trăm, rồi hai trăm máy tính truy cập trong một ngày… Tôi ngồi trước máy tính của mình, muốn nói: “Hãy vào xem đi các vị. Sẽ có nhiều thông tin hữu ích đấy. Hãy xem đi, các vị sẽ hiểu chúng tôi và yêu mến chúng tôi”.
Sau tuần đầu, số máy tính truy cập trong một ngày đạt mức 1.000. Các biên tập viên trẻ của tôi ngỡ ngàng vui mừng. Tin họ vừa biên dịch xong có những 1.000 người đọc. Một tuần sau, số độc giả hằng ngày đã tăng gấp đôi… Sau nửa năm, VnExpress có 300.000 độc giả… Phần lớn thư bạn đọc kể rằng họ biết đến VnExpress là nhờ bạn bè giới thiệu.
Đó là những ngày đầu tiên trên con đường tiến tới được xã hội chấp nhận, rồi đến chính quyền phải xem xét lại các quy chế về quản lý báo chí, rồi mở ra những hành lang mới để thừa nhận VnExpress về mặt pháp lý. Qua những ngày đó mới hiểu, tại sao ngày 25/11/2002, khi cầm trên tay tờ giấy màu vàng giản đơn ghi dòng chữ “Giấy phép hoạt động báo điện tử số 511/GP – BVHTT”, Đình Anh đã nói: “Tôi thực sự xúc động”.
Sau đó, VnExpress được báo giới Việt Nam bình chọn là một trong 10 sự kiện nổi bật trong lĩnh vực công nghệ thông tin của năm 2002 “do đã thực sự là một biểu tượng cho sự phát triển nội dung Internet ở Việt Nam”.
Những người viết sử thường nhấn mạnh những gian truân lúc sơ khai để đề cao sự việc. Nhìn lại sự ra đời của VnExpress, tôi thấy hầu như không có gian truân gì. Mọi việc nói chung đã diễn ra đúng hoạch định, nhẹ nhàng và thuận lợi. Phần lớn những thuận lợi có được là do cơ chế của FPT. Tôi thấy mình đã may mắn đến với FPT, đã may mắn có những người cộng sự và đồng nghiệp như hiện nay. (Trong trang sử ký này tôi không nêu nhiều tên người, vì như vậy sẽ rất nhiều: để làm tờ báo, cần có một tập thể lớn).
Tôi không hề nghĩ VnExpress là to tát. Ngược lại, tôi thực lòng mong rằng, sau này nhìn lại thấy VnExpress chỉ là một mầm non ban đầu, qua năm tháng biến thành cây đại thụ nhiều cành nhánh sum suê. Cây đại thụ đó chính là hệ thống các phương tiện thông tin đại chúng hùng mạnh dưới sự điều khiển của tập đoàn FPT.
3 comments 31/07/2007
Dọn dẹp lại máy tính sau khi lĩnh đạn từ Virus
Tải BKAV về rồi diệt virus đã,sau khi xong .Tải file này về để enable Regedit
http://manbaibang.googlepages.com/enableregedit.vbs
Sau khi enable regedit thì mới có thể làm các thao tác khác trên regedit
Tải file này về để Enable Task Manager
http://manbaibang.googlepages.com/enabletaskmgr.reg
Tải file này về để Show Folder Options
http://manbaibang.googlepages.com/showfolderoptions.reg
Tải file này về,giải nén và chạy tất cả các file .reg trong đó để Show Hidden và show super Hidden (system files) http://manbaibang.googlepages.com/showhidden.zip
2 comments 30/07/2007
Một số thủ thuật giúp tăng khả năng tìm kiếm trên Google
Google rõ ràng là một công cụ tìm kiếm tốt nhất trên Internet hiện nay. Nhưng phần lớn người dùng không tận dụng hết những ưu điểm của nó. Phải chăng bạn mới chỉ gõ vào một hoặc hai từ khóa rồi chờ đợi những kết quả tốt nhất? Đó có thể là phương pháp tìm kiếm nhanh nhất, nhưng với hơn 3 tỷ trang web có trong chỉ mục của Google thì bạn sẽ phải nỗ lực rất lớn để tìm ra kết quả cần thiết trong số các trang tìm được.
Nhưng Google là một công cụ đặc biệt xuất sắc có thể giúp cho việc khám phá Internet của bạn trở nên dễ dàng hơn. Các tùy chọn tìm kiếm của Google vượt ra khỏi phạm vi của các từ khóa đơn giản, các trang web, và thậm chí là cả những lập trình viên của nó nữa. Hãy xem xét tới một số tùy chọn ít được biết tới của Google.
Mẹo vặt tìm kiếm câu lệnh
Sử dụng một câu lệnh đặc biệt là một phương thức để Google nhận biết bạn muốn hạn chế việc tìm kiếm trong những thành phần hay những đặc điểm nhất định của các trang web. Google có một danh sách khá đầy đủ các thành phần câu lệnh của nó tại www.google.com/help/operators.html. Sau đây là một số thao tác cao cấp có thể giúp bạn thu hẹp phạm vi kết quả tìm kiếm.
Đặt “Intitle:” ở đầu của một từ hay một cụm từ truy vấn (thí dụ: intitle: “Three Blind Mice”) sẽ giới hạn kết quả tìm kiếm của bạn chỉ trong tiêu đề của các trang web.
Còn “Intext:” thì làm cái việc ngược lại với “intitle:”, nó chỉ tìm kiếm trong phần văn bản nội dung của trang mà bỏ qua tiêu đề, các liên kết v.v… “Intext” rất phù hợp khi bạn muốn tìm những nội dung thường xuất hiện trong địa chỉ URL.
“Link:” sẽ giúp bạn biết được những trang nào liên kết tới trang mà bạn quan tâm hoặc những liên kết tới các trang khác trong trang đó. Thí dụ, bạn hãy thử gõ:
“link:http://www.pcmag.com”.
Bạn có thể sử dụng toán tử “site:” (toán tử này giúp bạn hạn chế kết quả trong các vùng tên miền ở cấp cao nhất) cùng với “intitle:” để tìm kiếm những kiểu trang nhất định. Thí dụ, hãy tìm các trang giáo dục nói về Mark Twain bằng cách tìm kiếm với: “intitle:”Mark Twain”site:edu”. Hãy thử nghiệm kết hợp nhiều thành phần khác; bạn sẽ tìm ra một vài cách thức để tìm kiếm thông tin hữu hiệu hơn.
Những dịch vụ ít được biết đến của Google
Google có một số dịch vụ giúp bạn thực hiện một vài công việc mà có thể bạn chưa bao giờ nghĩ rằng có thể sử dụng Google để hoàn thành. Thí dụ, tính năng máy tính mới của Google (www.google.com/help/features.html#calculator) cho phép bạn có thể thực hiện các phép toán và việc chuyển đổi từ hộp tìm kiếm. Có một thí dụ vui, bạn hãy thử với truy vấn “Answer to life the universe and everything”.
Hãy để cho Google giúp bạn kiểm tra lỗi chính tả với các yêu cầu tìm kiếm của bạn. Hãy thử gõ một từ hoặc một cụm từ sai lỗi chính tả vào hộp thoại tìm kiếm (thí dụ: “thre blund mise”) và Google sẽ gợi ý cho bạn cách viết thích hợp hơn. Việc này không phải lúc nào cũng hoàn hảo; sẽ tốt hơn khi từ mà bạn cần tìm có sẵn trong từ điểm. Khi bạn muốn tìm một từ viết đúng chính tả, hãy nhìn xuống trang kết quả, nơi lặp lại yêu cầu tìm kiếm của bạn. (Nếu bạn đang tìm kiếm với “three blind mice”, phía dưới cửa sổ tìm kiếm sẽ xuất hiện một thông báo dạng như “Search the web for “three blind mice”). Bạn sẽ phát hiện được mình có thể bấm chuột vào mỗi từ trong cụm từ đó để biết được định nghĩa của nó trong từ điển.
Mở rộng khả năng tìm kiếm
Google còn đưa ra một số dịch vụ giúp bạn làm rõ hơn tìm kiếm của mình. Google Groups (http:// groups.google.com) lập chỉ mục hàng triệu các thông điệp từ các cuộc thảo luận trên Usenet từ nhiều thập kỷ nay. Google thậm chí còn giúp cho việc mua sắm của bạn với 2 công cụ: Froogle (http://froogle.google.com), với chỉ mục các hàng hóa từ các cửa hiệu trực tuyến, và Google Catalogs (http://catalogs.google.com), với nhiều sản phẩm nổi bật từ hơn 6.000 trang catalogs trong một chỉ mục tìm kiếm được. Bạn có thể tìm được danh sách đầy đủ các công cụ và dịch vụ của Google tại.
Có thể bạn đã quen sử dụng Google thông qua trình duyệt của mình. Vậy đã bao giờ bạn nghĩ tới việc sử dụng Google bên ngoài trình duyệt của mình chưa?
Google Alert (www.googlealert.com) sẽ giám sát các điều kiện tìm kiếm của bạn và sẽ gửi thư điện tử thông báo cho bạn biết thông tin về những bổ sung mới vào chỉ mục của google. (Google Alert không phải là chi nhánh của Google; nó sử dụng các hàm dịch vụ Web API của Google để thực hiện tìm kiếm của nó). Nếu bạn quan tâm tới những câu chuyện mới hơn là những nội dung Web chung chung, hãy thử xem xét bản beta của Google News Alerts (www.google.com/newsalerts). Dịch vụ này (là một chi nhánh của Google) sẽ giám sát tới 50 truy vấn trong mỗi địa chỉ e-mail và sẽ gửi cho bạn thông tin về những câu chuyện mới phù hợp với truy vấn của bạn. (Gợi ý: Hãy sử dụng các thành phần câu lệnh “intitle:” và “source:” với Google News để giới hạn số thông báo mà bạn nhận được).
Trong năm 2002, Google đã đưa ra các hàm Google API (giao diện lập trình ứng dụng), một phương thức giúp các lập trình viên có thể tiếp cận các kết quả từ cơ chế tìm kiếm của Google mà không vi phạm các điều khoản của Google. Rất nhiều người đã tạo được các ứng dụng hữu ích (và đôi lúc không hữu ích lắm nhưng thú vị) không có sẵn ở Google, mà điển hình là Google Alert. Với rất nhiều ứng dụng, bạn sẽ phải cần khóa API, hiện có miễn phí tại www.google.com/apis.
Với rất nhiều đặc tính tìm kiếm khác nhau của mình, Google đã vượt xa khỏi một công cụ tìm kiếm thông thường. Hãy thử nghiệm một số mẹo được đưa ra trên đây, bạn sẽ bị ngạc nhiên với số lượng các phương thức khác nhau mà Google làm tăng hiệu quả công việc tìm kiếm trên mạng của bạn.
Tìm kiếm trong một khoảng thời gian
Daterange: (ngày bắt đầu – ngày kết thúc). Bạn có thể giới hạn tìm kiếm của mình trong số các trang được lập chỉ mục trong một khoảng thời gian nhất định. Daterange: sẽ tìm kiếm với thời gian là khi các trang được lập chỉ mục, chứ không phải thời gian các trang đó được tạo ra. Toán tử này có thể giúp bạn chắc chắn rằng kết qủa thu được sẽ là những nội dung mới, hoặc bạn có thể sử dụng nó để loại từ những chủ đề mới tạo mà tập trung vào tìm kiếm những kết quả cũ hơn.
Thêm một số ứng dụng Google API
Staggernation cung cấp 3 công cụ dựa trên các hàm Google AIP. Công cụ tìm kiếm Web theo những máy chủ Google API (GAWSH) sẽ cung cấp một danh sách những máy chủ Web mà bạn cần tìm (www.staggernation.com/gawsh). Khi bạn bấm vào hình tam giác bên cạnh mỗi tên máy chủ, bạn sẽ nhận được một danh sách kết quả về máy chủ đó. Còn công cụ phác thảo trình duyệt liên quan Google API (GARBO) thì phức tạp hơn một chút: Bạn phải lựa chọn kết quả mình muốn tìm là những trang có liên quan tới địa chỉ URL mà bạn nhập vào đó hay là những trang liên kết tới địa chỉ đó (www.staggernation.com/garbo/). Bấm vào hình tam giác bên cạnh mỗi địa chỉ URL, bạn sẽ nhận được một danh sách các trang liên kết hoặc có liên quan tới địa chỉ này. Còn CapeMail là một ứng dụng tìm kiếm thư điện tử cho phép bạn gửi một thư điện tử tới google@capeclear.com với tiêu đề của thư chính là nội dung truy vấn của bạn. Sau đó bạn sẽ nhận được 10 kết quả đầu tiên. Có thể bạn chẳng cần dùng tới nó hàng ngày, nhưng nếu điện thoại di động của bạn có khả năng gửi e-mail mà không duyệt web được, thì đây cũng là một địa chỉ hữu ích mà bạn nên biết.
1 comment 29/07/2007
Biến Windows dỏm thành Windows có bản quyền
Đầu tiên vào Start ,Run,gõ Regedit rùi tìm đến khóa
HKEY_LOCAL_MACHINE\Software\Microsoft\WindowsNT\CurrentVersion\WPAEvents
Ở ô bên phải nhấn chuột phải vào OOBETimer rồi click vào Modify. Tiếp đến hãy thay đổi một khóa bất kì (ví dụ 71 thành 72 chẳng hạn). Sau đó đóng nó lại và tiếp tục vào Start , Run , và đánh
%systemroot%\system32\oobe\msoobe.exe /a
Nó sẽ đưa bạn đến cửa sổ Active windows.
Đừng lo hãy chọn
I want to telephone a customer service representative to activate Windows
Tiếp đến nhấn Next, nhấn Change Product key
Hãy nhập key này
DHXQ2-WRGCD-WGYJY-HHYDH-KKX9B
hoặc
JG28K-H9Q7X-BH6W4-3PDCQ-6XBFJ
hoặc
MJPMD-69P47-4JK37-DGQF2-XMWPQ
Đánh xong hãy nhấn Update. Nó sẽ lại đưa chúng ta về cửa sổ Active, đừng quan tâm, hãy đóng nó lại bằng cách nhấn vào Remind me later
Xong đâu đó rùi thì còn chờ gì nữa, khởi động lại Windows đi thôi. Khởi động lại xong hãy vào Run, đánh tiếp
%systemroot%\system32\oobe\msoobe.exe /a
Cửa sổ Active sẽ lại hiện ra nhưng ko phải là bắt chúng ta Active mà là báo cho ta biết Windows is activated.
Vậy là Windows đã có bản quyền rùi đó. Hãy tận hưởng bằng cách vào ngay trang update hay cài IE7, WMP11, Windows Defender …. hay bất cứ cái gị có check bản quyền của Microsoft.
1 comment 26/07/2007
Thuật toán số hóa thông điệp MD5
1. Mục đích
Tài liệu này mô tả thuật toán số hóa thông điệp MD5. Thuật toán nhận vào 1 thông điệp độ dài tùy ý và tạo ra một số 128 bit, là một dạng “vân tay“ hay “mã số thông điệp“ ( message digest ) của đầu vào. Người ta cho rằng sẽ không khả thi về mặt tính toán để tạo ra 2 thông điệp có cùng mã số thông điệp, hoặc tạo ra một thông điệp với mã số cho trước.Thuật toán MD5 được dự tính áp dụng cho những ứng dụng chữ ký điện tử, ở đó một file lớn phải được “nén“ một cách an toàn trước khi mã hóa với một khóa cá nhân ( private key ) dưới một hệ mã hóa công khai như RSA
Thuật toán MD5 được thiết kế để chạy tương đối nhanh trên các máy 32 bit, có thể được thực hiện một cách khá gọn.
Thuật toán MD5 là sự mở rộng của thuật toán MD4. MD5 chậm hơn một chút so với MD4 nhưng an toàn hơn. MD5 được thiết kế vì người ta cảm thấy có thể MD4 đã được chấp nhận trong sử dụng quá nhanh so với sự đánh giá nó. MD4 được thiết kế để chạy rất nhanh, nó đã “nằm trên ranh giới“ theo cách nói về nguy cơ của sự thành công trong việc phá mã. MD5 đã lùi lại một chút, từ bỏ một chút tốc độ cho sự bảo mật. Nó kết hợp một số ý kiến góp ý của các chuyên gia, thuật toán MD5 hiện đang được đánh giá và có thể được chấp nhận như một chuẩn.
2. Thuật ngữ và ký hiệu
Trong tài liệu này một “word“ là một lượng 32 bit và một “byte“ là một lượng 8 bit. Một dãy các bit có thể được xem như một dãy các byte, trong đó mỗi nhóm 8 bit liên tiếp được xem như một byte với bit cao của mỗi byte đặt trước. Tương tự, mỗi dãy các byte có thể xem như một dãy các word 32 bit, trong đõ mỗi nhóm 4 byte liên tiếp được xem như một word với byte thấp đặt trước.
Ký hiệu x_i nghĩa là phần tử x thứ i (“x sub i“). Nếu số thứ tự đó là một biểu thức ta viết nó trong ngoặc nhọn, ví dụ như x_{i+1} ; ^ ký hiệu cho số mũ.
Ký hiệu “+“ cho phép cộng các word, nghĩa là cộng theo môđun 2^32.
X <<< s ký hiệu giá trị 32 bit nhận được bằng cách dịch chuyển các bit của X (theo kiểu quay vòng ) sang trái s vị trí.
not(X) ký hiệu phép đối lập (NOT) các bit
X v Y ký hiệu phép OR các bit
X xor Y ký hiệu phép XOR các bit
XY ký hiệu phép AND các bit
3. Mô tả thuật toán MD5
Giả sử chúng ta có thông điệp b bit ở đầu vào, và ta muốn tìm mã số của thông điệp. Ở đây b là số không âm bất kỳ; b có thể bằng 0 và không cần chia hết cho 8, độ lớn có thể bất kỳ. Tưởng tượng rằng các bit của thông điệp được viết như sau :
m_0 m_1 m_2 … m_{b-1}
Mã số thông điệp được tính qua 5 bước sau
3.1 – Bước 1 : Các bit gắn thêm
Thông điệp được mở rộng, thêm bit vào phía sau sao cho độ dài của nó ( tính theo bit ) đồng dư với 448 theo môđun 512. Nghĩa là thông điệp được mở rộng sao cho nó còn thiếu 64 bit nữa thì sẽ có một độ dài chia hết cho 512. Việc này luông được thực hiện ngay cả khi bản thân độ dài thông điệp đã đồng dư với 448 theo môđun 512.
Việc thêm bit này thực hiện như sau : một bit “1“ được thêm vào sau thông điệp, sau đó các bit “0“ được thêm vào để có một độ dài đồng dư với 448 môđun 512. Trong tất cả các trường hợp, có ít nhất 1 và nhiều nhất 512 bit được thêm vào.
3.2 – Bước 2 : Gắn thêm độ dài
Dạng biểu diễn 64 bit độ dài b của chuỗi ban đầu được thêm vào phía sau kết quả của bước 1. Trong trường hợp b lớn hơn 2^64 thì chỉ có 64 bit thấp của b được sử dụng. ( Các bit này được thêm vào phía sau dưới dạng 2 word 32 bit, gắn word thấp trước theo quy ước ở trên )
3.3 – Bước 3 : Khởi tạo bộ đệm MD
Một bộ đệm 4 word (A,B,C,D) được dùng để tính mã số thông điệp. Ở đây mỗi A,B,C,D là một thanh ghi 32 bit. Những thanh ghi này được khởi tạo theo những giá trị hex sau ( các byte thấp trước ) :
word A : 01 23 45 67
word B : 89 ab cd ef
word C : fe dc ba 98
word D : 76 54 32 10
3.4 – Bước 4 : Xử lý thông điệp theo từng khối 16 word
Trước hết ta định nghĩa các hàm phụ, các hàm này nhận đầu vào là 3 word 32 bit và tạo ra một word 32 bit.
F(X,Y,Z) = XY v not(X) Z
G(X,Y,Z)= XZ v Y not(Z)
H(X,Y,Z) = X xor Y xor Z
I(X,Y,Z) = Y xor (X v not(Z))
Với mỗi bit, F hoạt động như một điều kiện : nếu X thì Y nếu không thì Z. Hàm F có thể định nghĩa bằng phép + thay vì v bởi vì XY và not(X)Z không bao giờ có “1“ ở cùng 1 vị trí bit.Các hàm G,H và I tương tự như F, ở chỗ chúng tác động theo từng bit tương ứng để tạo ra kết quả từ các bit của X,Y và Z
Bước này sử dụng một bảng 64 giá trị T[1 .. 64] được tạo ra từ hàm sin. Gọi T[i] là phần tử thứ i của bảng, thì T[i]là phần nguyên của 4294967296*|sin(i)| , i được tính theo radian.
Làm như sau :
/* Xử lý mỗi khối 16 word */
For i = 0 to N/16-1 do
/* Copy block i into X. */
For j = 0 to 15 do
Set X[j] to M[i*16+j].
end /* of loop on j */
/* Lưu A vào AA, B vào BB, C vào CC, D và DD . */
AA = A
BB = B
CC = C
DD = D
/* Vòng 1. */
/* Ký hiệu [abcd k s i] nghĩa là thực hiện như sau :
a = b + ((a + F(b,c,d) + X[k] + T[i]) <<< s). */
/* Thực hiện : */
[ABCD 0 7 1] [DABC 1 12 2] [CDAB 2 17 3] [BCDA 3 22 4]
[ABCD 4 7 5] [DABC 5 12 6] [CDAB 6 17 7] [BCDA 7 22 8]
[ABCD 8 7 9] [DABC 9 12 10] [CDAB 10 17 11] [BCDA 11 22 12]
[ABCD 12 7 13] [DABC 13 12 14] [CDAB 14 17 15] [BCDA 15 22 16]
/* Vòng 2. */
/*Ký hiệu [abcd k s i] nghĩa là thực hiện như sau
a = b + ((a + G(b,c,d) + X[k] + T[i]) <<< s). */
/* Thực hiện : */
[ABCD 1 5 17] [DABC 6 9 18] [CDAB 11 14 19] [BCDA 0 20 20]
[ABCD 5 5 21] [DABC 10 9 22] [CDAB 15 14 23] [BCDA 4 20 24]
[ABCD 9 5 25] [DABC 14 9 26] [CDAB 3 14 27] [BCDA 8 20 28]
[ABCD 13 5 29] [DABC 2 9 30] [CDAB 7 14 31] [BCDA 12 20 32]
/* Vòng 3. */
/* Ký hiệu [abcd k s t] nghĩ là làm như sau
a = b + ((a + H(b,c,d) + X[k] + T[i]) <<< s). */
/* Thực hiện :*/
[ABCD 5 4 33] [DABC 8 11 34] [CDAB 11 16 35] [BCDA 14 23 36]
[ABCD 1 4 37] [DABC 4 11 38] [CDAB 7 16 39] [BCDA 10 23 40]
[ABCD 13 4 41] [DABC 0 11 42] [CDAB 3 16 43] [BCDA 6 23 44]
[ABCD 9 4 45] [DABC 12 11 46] [CDAB 15 16 47] [BCDA 2 23 48]
/* Vòng 4. */
/* Ký hiệu [abcd k s t] nghĩa là làm như sau
a = b + ((a + I(b,c,d) + X[k] + T[i]) <<< s). */
/* Thực hiên: */
[ABCD 0 6 49] [DABC 7 10 50] [CDAB 14 15 51] [BCDA 5 21 52]
[ABCD 12 6 53] [DABC 3 10 54] [CDAB 10 15 55] [BCDA 1 21 56]
[ABCD 8 6 57] [DABC 15 10 58] [CDAB 6 15 59] [BCDA 13 21 60]
[ABCD 4 6 61] [DABC 11 10 62] [CDAB 2 15 63] [BCDA 9 21 64]
/* Then perform the following additions. (That is increment each
of the four registers by the value it had before this block was started.) */
/* Sau đó làm các phép cộng sau. ( Nghĩa là cộng vào mỗi thanh ghi giá trị của nó trước khi vào vòng lặp ) */
A = A + AA
B = B + BB
C = C + CC
D = D + DD
end /* of loop on i */
3.5 – Bước 5 : In ra
Mã số thông điệp được tạo ra là A,B,C,D. Nghĩa là chúng ta bắt đầu từ byte thấp của A, kết thúc với byte cao của D.
Đến đây đã mô tả xong thuật toán MD5. Mã nguồn tham khảo viết bằng C có thể tìm thấy ở phụ lục.
4. Tổng kết
Thuật toán số hóa thông điệp MD5 khá đơn giản để thực hiện, cung cấp một dạng “vân tay“ hay mã số của thông điệp với độ dài tùy ý. Người ta cho rằng độ khó để tìm được 2 thông điệp có cùng mã số là khoảng 2^64 bước tính, và độ khó để tim được một thông điệp với mã số cho trước là 2^128 bước tính. Thuật toán MD5 đã được dò tìm điểm yếu một cách cẩn thận. Tuy nhiên đây là một thuật toán tương đối mới ( ! ) và việc phân tích cẩn thận về sự an toàn là cần thiết.
5. Sự khác nhau giữa MD4 và MD5
Sau đây là sự khác nhau giữa MD4 và MD5 :
1. Vòng 4 đã được thêm vào
2. Mỗi bước đều được thêm vào một hằng số duy nhất
3. Hàm G ở vòng 2 được đổi từ (XY v XZ v YZ) thành (XZ v Y not(Z)) để làm giảm sự đối xứng trong G.
4. Mỗi bước đều sử dụng kết quả từ bước trước . Điều này nhằm tạo ra “hiệu ứng dây chuyền“ nhanh hơn
5. Thứ tự các word đầu vào ở vòng 2 và vòng 3 được thay đổi, để làm cho hai mẫu này ít giống nhau hơn
6. Số bit dịch chuyển ở mỗi vòng được tối ưu hóa, để tạo ra “hiệu ứng dây chuyền“ nhanh hơn. Lượng dịch chuyển ở mỗi vòng là khác nhau.
Tài liệu tham khảo
[1] Rivest, R., “The MD4 Message Digest Algorithm“, RFC 1320, MIT and
RSA Data Security, Inc., April 1992.
[2] Rivest, R., “The MD4 message digest algorithm“, in A.J. Menezes
and S.A. Vanstone, editors, Advances in Cryptology – CRYPTO `90
Proceedings, pages 303-311, Springer-Verlag, 1991.
[3] CCITT Recommendation X.509 (1988), “The Directory -
Authentication Framework.“
Xem xét về tính bảo mật
Độ bảo mật bàn đến trong bài viết này được coi là đủ để tạo ra những mô hình chữ ký điện tử kết hợp giữa MD5 và một hệ mã hóa công khai
Add comment 24/07/2007
MD5 Algorithm
Mỗi một người có một “dấu lăn tay” (fingerprint) riêng ko ai giống ai đúng ko các bạn?. Lúc 15 tuổi tui làm giấy CMND cho đến nay “dấu lăn tay” của tui vẫn vậy. Và có khi nào bạn hỏi: Ai đã tạo ra nó thế?!. Xin trả lời: đó là do Ông Trời tạo ra bạn ạ!!!.(lãng xẹt) Hihi
Từ những ý tưởng đó , con người mới nghĩ ra việc : tại sao chúng ta ko làm Ông Trời một phen. Chúng ta thử tạo ra “dấu lăn tay” cho 1 cái gì đó để phân biệt chúng với nhau. Ví dụ như tên của mỗi người chẳng hạn (các bạn nên có khái niệm tên (name) là một chuổi các ký tự được gọi là string). Hêhêhê . Do vậy , trong IT người ta bắt đầu nghiên cứu các “cái máy” tạo ra “dấu lăn tay” cho các chuổi string. Một trong những “cái máy” đó là “Thuật toán MD5” mà chúng ta sắp nghiên cứu đây.
“Dấu lăn tay” do Thuật tóan MD5 (gọi tắt là MD5) từ một string gọi là message digest (tín hiệu digest, gọi tắt là md) hay còn gọi là “MD5 hashes” (gọi tắt là hashes). Một tín hiệu hashes là một chuổi các ký tự hexa ( bao gồm số 0-9 và a-f, các số hex ấy mà!!). Về nguyên tắt tạo ra hashes là :
-Bất cứ string nào cũng điều có duy nhất một hashes, ko bao giờ có 2 hashes cho 1 string
-Hai string khác nhau thì có 2 hashes khác nhau, ko bao giờ trùng nhau.
-Hảy nhớ điều này: từ 1 hashes ta tìm ngược lại string của nó được ko? Điều này ko bao giờ làm được. Ko một “máy” nào làm được.Chúng ta nên nhớ điều này.
Đó là những gì mà thuật tóan MD5 làm ra.
TUT này chúng ta ko tìm hiểu sâu thật sâu về MD5, như là tại sao làm như thuật tóan thì đáp ứng các điều kiện trên vừa nói, đó là việc của các nhà phát minh, các nhà tóan học.Chúng ta chỉ tìm hiểu cách thực hiện của MD5 mà thôi. Từ đó chúng ta có thể ứng dụng nó để nhận dạng ra chương trình nào sử dụng MD5, và sau đó ….keygen nó …hihi
Sau đây tui xin trích dẫn một số tài liệu về MD5 mà tui tìm hiểu được trên Net. Các bạn đọc từ từ nhé ko thôi bị mắc nghẹn à.
MỘT SỐ THÔNG TIN CĂN BẢN:
MD5 LÀ GÌ ?
MD để chỉ cho “message digest” (Lấy 2 chử đầu). MD5 là một thuật tóan lấy một tín hiệu vào có chiều dài bất kỳ và đưa ra một tín hiệu digest có chiều dài cố định (128-bit, 32 ký tự hexa), được làm ra từ 1 giá trị hexa (chú ý : mỗi ký tự hex là 4 bit, do đó 128bit là 32 ký tự hex). OK, bây giờ nói rõ hơn một chút : MD5 là cách căn bản để lấy chùm ký tự ( là digits, alphabeic hay gì khác ), được gọi là string nhập vào, và thay đổi chúng thành một chùm ký tự dài 32 ký tự , được gọi là tín hiệu digest (message digest) hay hashes của string được nhập vào, chuổi 32 ký tự này được tạo ra từ các ký tự hexa ( những digits: 0-9 và các chử a-f). Điều này có nghĩa là, với một string nhập vào có chiều dài bất kỳ , MD5 sẽ luôn luôn cài đặt “một vài thứ” để thành một chuổi string dài 32 ký tự, mà các ký tự là các ký tự hexa. Tín hiệu digest sẽ ko có khỏang trống, hay dấu hoặc kép hay bất cứ thứ gì khác 0-9 và a-f trong tín hiệu hashes được xuất ra.
MD5 hashes có tiện dụng là những hashes tạo ra trông khác nhau hòan tòan từ những tín hiệu nhập vào hơi hơi giống nhau. Ví dụ sau sẽ làm rỏ hơn về điều này:
• The MD5 hash of jim is 5e027396789a18c37aeda616e3d7991b
• The MD5 hash of Jim is d54b3c8fcd5ba07e47b400e69a287966
• The MD5 hash of Jimmy is 495b3121d23f5988b133882b36aa7214
Như bạn thấy đó, có ba tín hiệu nhập vào “hơi hơi giống nhau” nhưng các tín hiệu MD5 hashes xuất ra hòan tòan khác nhau. Ví dụ này cũng chứng minh hai ký tự j và J là 2 ký tự khác nhau . Do đó chúng ta thấy “máy đẻ” ra MD5 hashes là lọai rất nhạy cảm. Ở đây cần chú ý thêm là trong ví dụ thứ 3 chỉ thêm vào 2 ký tự (my) ở cuối chuổi của ví dụ 2 , và hashes của nó đã thay đổi hòan tòan. Vì vậy chúng ta ko thể có hashes của chuổi “Blehlo” từ hashes của chuổi “Bleh” bằng cách “vá viếu” thêm vài ký tự – thay đổi trong chuổi string nhập vào thì tín hiệu hashes của nó cũng sẽ thay đổi hòan tòan. Và ở đây cũng nên chú ý với 3 string nhập vào có chiều dài ko giống nhau nhưng các hash sinh ra đều có chiều dài là 32 ký tự (bao gồm các số 0-9 và a-f), ở ví dụ sau cùng ta cũng thấy chuổi string nhập vào dài hơn 2 ký tự so với 2 string trước nhưng chuổi hash của nó cũng chỉ có 32 ký tự chử số hex.
Mặc dù tín hiệu MD5 hashes xuất ra ngẫu nhiên từ string nhập vào , nhưng thật ra chúng ta có một kiểu mẫu tạo hashes MD5(một thuật tóan MD5) được sử dụng để “quay” string nhập vào thành một md hay một hashes. Nếu bạn muốn sử dụng nó thì bạn có thể đọc ở tut này ở phần sau . Bởi vì MD5 được sử dụng một thuật tóan giống nhau cho mỗi lần tính tóan nên MD5 hashes của chuổi jim luôn luôn là
5e027396789a18c37aeda616e3d7991b
Trong thực tế , một số chương trình còn thêm vào một vào vài lọai thuật tóan khác khi md được sinh ra , làm cho MD5 cực kỳ thông dụng và là 1 công cụ rất mạnh. Nhưng có lẻ điều quan trọng nhất là trong thực tế MD5 được dùng như một cách tạo hashes hay ta gọi là hash chuổi ( biến chuổi thành 1 chuổi “vớ vẫn” nào đó)……
Tôi xin nói thật, những điều tui tìm hiểu được trên đây làm cho tui vô cùng “đắc ý”. Tóm lại chúng ta cần biết như sau:
-MD5: là một thuật tóan biến đổi 1 chuổi string thành 1 tín hiệu “message digest” hay còn gọi là “MD5 hashes”. Đó là một tín hiệu 128 bits – 32 ký tự hexa.
-hash một chuổi string là biến một string thành một tín hiệu message digest
-Thủ tục (procedure) hay hàm (function) trong chương trình để hash chuổi gọi là “máy sinh” MD5 hashes hay còn gọi nôm na là “máy hash”.
Bây giờ chúng ta sẽ bước sang một câu hỏi khác rất quan trọng.
CHÚNG TA “DỊCH NGƯỢC” LẠI MỘT TÍN HIỆU MD5 HASHES NHƯ THẾ NÀO ?
Như trên tui đã nói : từ 1 hashes ta tìm ngược lại string của nó được ko? Điều này ko bao giờ làm được. Ko một “máy” nào làm được.
Vậy ở đây câu trả lời là : “Bạn không thể” . Cách hash một string có nghĩa là tín hiệu md xuất ra bằng thuật tóan MD5 là ko thể đảo ngược. Không thể biết cách tìm ra chuổi origin từ tín hiệu MD5 hashes. Vì như ví dụ ở phần trước, những chuỗi có vẽ giống nhau nhưng tín hiệu md sinh ra hòan tòan khác nhau Tức là chúng ta ko thể nào “decode” (dịch ngược) được một chuổi MD5 hashes. Chỉ có một cách có được chuổi origin là bằng cách “brute force cracking”. Tức là phải duyệt qua rất nhiều tổ họp các ký tự của chuổi vào cho đến khi một trong những chuổi md được tạo ra của chúng bằng với chuổi md cần tìm origin. Tuy nhiên , với khả năng máy tính thời nay muốn làm điều này phải mất rất nhiều năm. Mặt khác ở đây chúng ta cần chú ý đó là tín hiệu MD5 hashes được thiết kế ra là “độc nhất vô nhị”. Trên lý thuyết cũng có khả năng 2 chuổi khác nhau có tín hiệu md giống nhau nhưng khả năng này rất rất nhỏ (1/(16^32) hay vào khỏang (3.4E+38). Bởi vậy có một lần tui tham gia forum HVA và có người sử dụng chương trình tìm password cho tập tin WINRAR bị mất password và bác Comp đã kiến nghị ko nên dùng chương trình đó là lý do trên. Vì khả năng tìm ra password rất “dài hơi” và máy tính chắc chạy vài tuần của chưa tìm ra. Hảy bỏ ý định đó đi các bạn.
MD5 ĐƯỢC SỬ DỤNG CHO VIỆC GÌ ?
Chính các đặc điểm của MD5 làm cho nó thường được ứng dụng trong một số trường hợp như sau:
-Nó thường được dùng để checksum tòan bộ file. Các nhà phát triển ứng dụng thường dùng MD5 trong việc cho phép download file trên NET. Họ sẽ cho “xuất bản” một tín hiệu md của file download. Khi chúng ta tải file về , thì file chúng ta vừa download sẽ có một tín hiệu md, nếu tín hiệu này khớp với tín hiệu các nhà phát triển ứng dụng đã “xuất bản” ở trên. Thì OK, ko có vấn đề. Nếu hai tín hiệu md này khác nhau, có thể có trong file download có virut hay cái gì đó tương tự.
-Một ứng dụng thường được dùng nữa là hash một password. Được dùng cho việc bảo mật một ứng dụng, hay những gì tương tự …v….v….
Đây là một số thông tin căn bản chúng ta cần biết qua khi bắt đầu tìm hiểu về thuật tóan MD5. Ở đây tui cần nói thêm một chút:
-Chúng ta chỉ có thể tạo ra tín hiệu message digest từ một chuổi string ( đây được gọi là quá trình “encode”).Chúng ta ko thể “dịch ngược” một message digest ra một string origin (quá trình “dịch ngược” gọi là “decode”). Khi tìm hiểu về MD5, tui có hỏi trên Forum HVA về các soft dùng MD5, và có một người trả lời là “bạn cần soft encode hay decode”. Và hacnho trả lời giúp tui : dĩ nhiên là encode. Thật tình tui ko thể nào chịu nổi lọai người này. Họ chỉ biết trình diễn kiến thức. Đây ko phải là “văn hóa” khi tham gia một forum. Mong mọi người nên chân thành với nhau nhiều hơn.
-Một số người sai lầm khi hiểu rằng “MD5 hashes “ là thuật tóan tựa như MD5 ,tức là thuật tóan trên nền tản MD5 biến đổi đi đôi chút. (Các thuật tóan này tôi gọi nôn na là thuật tóan “Lai căn MD5”). Điều này sai lầm , benina chỉ xin nhắc lại : MD5 hashes = message digest.
-Đứng về mặt cracking, một số người khi chưa tìm hiểu kỹ MD5 và thấy decode ko được nên cho rằng các soft dùng thuật tóan MD5 là ko keygen được “bất khả xâm phạm” . Lại thêm một sai lầm nữa. Vì sau vậy?. Vì nếu 1 soft được bảo vệ bằng đúng “chính xác thuật tóan MD5” thì quá dễ để tìm ra số serial vì chúng ta đã biết chính xác thuật tóan này diễn ra như thế nào. Vì vậy các soft chỉ dùng thuật tóan “lai căn MD5” , hay lồng các thuật tóan khác với thuật tóan MD5. Vì vậy các bạn muốn tìm các soft trong thực tế sử dụng MD5 rất khó. (có thể nói là ko có vì ko coder nào ngu đến như vậy!). Tui chỉ tìm được một soft có thuật tóan khá giống thuật tóan MD5 mà thôi. Thực ra tui tìm trên Net thấy có 2 soft có thuật tóan “sát” với MD5, nhưng ko còn đường download trên Net nữa vì quá cũ. Tui phải ra tiệm bán các đĩa CD, và tìm được 1 Soft (mô phật! hên thiệt). Trong quá trình tìm hiểu MD5, tui cũng thu thập được một số soft có thuật tóan “Lai căn MD5”.Rồi tui sẽ share cho các bạn.
Add comment 24/07/2007
Kỹ thuật Sniff Password sử dụng Cain & Abel
Cain & Abel là một trong những công cụ đứng trong top các công cụ về security. Các bạn có thể tại phiên bản mới nhất tại http://oxid.netsons.org/download/ca_setup.exe
Hiện tại mình sử dụng phiên bản Cain & Abel v4.9.3
Cain & Abel v4.9.3 released
New features:
- Added Windows Mail (Vista) Password Decoder for POP3, IMAP, NNTP, SMTP and LDAP accounts.
- Added PTW WEP cracking attack.
- Added Windows Vista support in Wireless Password Decoder.
- Wireless Password Decoder now uses DLL injection under XP.
Các tính năng của Cain thì khỏi phải nói , quá trời trời luôn, ở đây mình chỉ giới thiệu Sniff Password. Các bạn có thể tham khảo thêm những tính năng của nó trong tài liệu kèm theo chương trình.
Bước 1: Sau khi install xong Cain và khởi động Cain thì ta cần phải cấu hình Network Adapter cho đúng.
Trên menu của Cain chọn Configure –> lựa chọn Network Adapter phù hợp
Click Start Sniffer
Bước 2: Lựa chọn Tab Sniffer –> Scan MAC Addresses, ở đây sẽ ra danh sách các địa chỉ IP mà chương trình Scan được
Bước 3: Tab bên dưới của Tab Sniffer lựa chọn phần APR. Tai khung APR ta có thể thêm địa chỉ IP mà cần sniff. Lựa chọn IP đích , IP nguồn
Bước 4: Và click Start APR, và ngồi chờ password “về làng”
Các bạn có thể xem video clip sau để biết rõ hơn
Trong đoạn video clip mình sẽ sniff password gửi từ máy có IP: 192.168.1.7.
Địa chỉ IP máy mình là 192.168.1.6 có sử dụng chương trình Cain đang chờ dzớt bất kỳ password nào mà máy 192.168.1.7 đệ trình
Video Demo Sniff Password
Add comment 24/07/2007
Cuộc đối đầu Microsoft – Google
Tại Diễn đàn Kinh tế thế giới diễn ra ở Thuỵ Sỹ, Microsoft, đấu thủ nặng ký nhất trong lĩnh vực phần mềm, và Google, công ty tìm kiếm Internet hay gây gổ, đã nhìn nhau thận trọng giống như các võ sỹ quyền anh bước lên sàn đấu.
Bill Gates, Chủ tịch của Microsoft, đã bày tỏ sự khâm phục của mình về ”chỉ số thông minh” của các nhà thiết kế Google. Đề cập về quyết định bỏ qua thị trường tìm kiếm trước đây của Microsoft, ông nói: ”Chúng tôi đã đưa ra một hướng đi mà hiện tôi nhận thấy là đã sai lầm ”Nhưng ông đã nhấn mạnh thêm, ”chúng tôi sẽ đuổi kịp họ”.
Bốn lãnh đạo hàng đầu của Google đang có mặt ở diễn đàn kinh tế thế giới – được tổ chức tại khu nghỉ trượt tuyết ở Davos – đã không còn bị ám ảnh trước những động thái của ngài Gates nữa. Eric E. Schmidt, Chủ tịch hội đồng quản trị của Google, đã viết trong một e-mail cho một đồng nghiệp: ”Chúng ta đã có nhiều cơ hội hơn để quan sát Bill và Microsoft tại diễn đàn Davos lần này”. Thông điệp này đã được chuyển tiếp cho các nhân viên qua danh sách mail nội bộ của công ty.
Ông Schmidt khẳng định rằng Microsoft đang chú ý nghiên cứu danh mục các bản quyền sáng chế của Google trong lĩnh vực tìm kiếm, nhằm tìm ra những yếu điểm tiềm ẩn. Và vì Google sử dụng phần mềm nguồn mở miễn phí Linux – thách thức lớn nhất của Windows – để cung cấp dịch vụ tìm kiếm, nên Microsoft lo ngại có thể sẽ ở thế bất lợi trong cạnh tranh. Ngài Schmidt đã viết trong e-mail: ”Dựa vào những phản ứng bản năng của họ đối với những thảo luận về ”nguồn mở”, họ bị ám ảnh với việc nguồn mở là một mô hình kinh doanh”.
Quay lại thời kỳ giữa những năm 90, Netscape Communications, một hãng công nghệ mới khởi nghiệp và ngang tàng khác ở vùng Bay Area, đã thương mại hoá trình duyệt web, tạo nên cơn sốt dot.com… một trình duyệt Web thương mại, đã phát động một cuộc đổ xô đi tìm vàng trên dot-com. Công ty này đã quả quyết rằng chương trình phần mềm mới lạ của hãng sẽ biến hệ điều hành Windows đầu tàu của Microsoft chỉ như một ”mớ các phần mềm điều khiển thiết bị hỗn độn”.
Microsoft – có trụ sở tại ngoại ô Seattle thuộc Redmond, cách xa Silicon Valley, trái tim của ngành công nghiệp công nghệ quốc gia – đang nghe ngóng Tình hình khi trình duyệt Web này xuất hiên,
Ngài Gates, nhận ra mối đe doạ mà Internet đặt cho công việc kinh doanh của ông ta một cách muộn màng, đã tập trung hoả lực của Microsoft vào Netscape và đè bẹp đối thủ này. Netscape sau này đã được America Online mua lại và hiện chỉ còn là cái bóng của chính mình trong một góc tối của Time Warner.
Tuy nhiên, như một hệ quả tất yếu, Gates đã gây ra vụ kiện chống độc quyền của liên bang đánh vào công ty, dấy lên nỗi lo ngại về sự sụp đổ của Microsoft. Cuối cùng, Microsoft đã thoát nạn một cách êm thấm nhờ bản án tương đối ôn hoà của thẩm phán.
Ngày nay, gần như tất cả mọi người ở Silicon Valley, từ những nhà đầu tư mạo hiểm, những kỹ sư công nghệ đến những nhà kinh doanh bất động sản và chủ khách sạn, đều đã bắt đầu đặt câu hỏi: Liệu Google có trở thành Netscape tiếp theo?
Ngài Gates, dù đã hứa hẹn trong suốt hơn một thập kỷ qua – nhưng cho tới nay vẫn chưa đưa được thông tin tới tận tay khách hàng, đã quyết định rằng kinh doanh tìm kiếm Internet vừa là một mối đe doạ đáng sợ, vừa là một thời cơ quý giá.
Là người đồng sáng lập và kiến trúc sư trưởng phần mềm đương nhiệm của Microsoft, ngài Gates sẵn lòng thừa nhận rằng hồi đó Microsoft cảm thấy thị trường tìm kiếm Internet ”khá vu vơ’’. Bất chấp cái nhìn tham vọng thuở ban đầu, Gates đã không dốc sức dốc tiền cho những phần mềm cải thiện khả năng tìm kiếm thông tin cho người sử dụng máy tính – cho đến khi nhìn thấy lợi nhuận của chúng.
Và thế là cơ hội đó đã “rơi đúng vào tay’’ hai sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành vi tính tại Đại học Stanford, Sergey Brin và Larry Page, những người đã “liều lĩnh” xem thường ý kiến chung của cả giới công nghệ bấy giờ rằng công nghệ tìm kiếm sẽ trở thành một mặt hàng rẻ mạt, “đầu thừa đuôi thẹo’’.
Trong khi những đại gia Internet cạnh tranh gay gắt với nhau trong lĩnh vực cổng Web thương mại điện tử và dịch vụ truy cập đến những nhà cung cấp như America Online, Google đã phát triển một công cụ tìm kiếm nhanh mà chẳng bao lâu sau đã trở thành một hiện tượng Internet mang tính toàn cầu. Nó đã hất cẳng những công cụ tìm kiếm trước đó bởi vì công nghệ do Brin và Page phát minh tỏ ra vượt trội trong việc hiển thị các kết quả tìm kiếm, thoả mãn những yêu cầu của người lướt Web.
Kết quả là hiện nay, Google đã có một lượng khách hàng khổng lồ, với 200 triệu tìm kiếm trung bình mỗi ngày. Đó là một ưu thế lớn của Google so với các đối thủ đang tìm cách bắt kịp nó.
Nancy Blachman, một nhà khoa học máy tính, và là tác giả của một trang web độc lập hướng dẫn cách sử dụng Google (www.googleguide.com) nói: ”Hệ thống có nhiều người dùng nhất mang lại lợi ích nhiều nhất. Microsoft đối mặt với một cuộc đấu gay go bởi vì Google điều chỉnh hệ thống của mình bằng cách xem người dùng điều chỉnh những truy vấn của họ ra sao”.
Nhưng Google đã làm được nhiều hơn việc phát triển một công nghệ mới thông minh. Không giống nhiều dot-com sáng lên trong những năm 1990, Google đã tìm cách để biến nó thành một việc kinh doanh mang lại lợi nhuận cao. Công ty này đã chứng minh rằng tập trung quảng cáo dựa vào các từ khoá liên quan đến những yêu cầu tìm kiếm của người lướt Web là hình thức hiệu quả nhất của quảng cáo trực tuyến.
Điều đó đã nhóm lên một cuộc chiến tay ba giữa Microsoft và hai đối thủ tại Silicon Valley: Yahoo, có trụ sở tại Sunnyvale, Calif., và Google, công ty có trụ sở gần đó, tại Mountain View. Nhấn mạnh tầm quan trọng của các công cụ tìm kiếm đối với quảng cáo Internet, mới đây Yahoo cho biết đã có kế hoạch để chấm dứt sự nhờ cậy duy nhất của mình cho kết quả tìm kiếm trên Google, và đã thiết lập phòng thí nghiệm nghiên cứu của riêng mình để cố gắng hạ vị trí dẫn đầu của đối thủ mới này.
Thành công về tài chính của Google là rõ ràng. Theo một số uỷ viên ban quản trị biết rõ con số tài chính bí mật của công ty, trong năm 2001, hãng này đã gần như không có doanh thu; trong năm ngoái, họ đã đạt doanh thu gần 1 tỷ USD và lợi nhuận khoảng 350 triệu USD.
Về phần Microsoft, những người trong ban quản trị đã bắt đầu khoe khoang sự tăng thu nhập nhanh chóng từ những quảng cáo Internet dựa vào sự cộng tác MSN của hãng với Overture, hiện là một bộ phận Yahoo và cũng đi tiên phong trong quảng cáo tìm kiếm web. Trong quý tài chính thứ hai, kết thúc hôm 31/12, Microsoft đã báo cáo lợi nhuận 292 triệu USD về quảng cáo trực tuyến, một sự tăng trưởng 47% theo thời kỳ tương ứng sớm hơn một năm. Công ty cho biết toàn bộ thu nhập quảng cáo trực tuyến của mình, bao gồm cả các nguồn nằm ngoài quảng cáo tìm kiếm, đã đạt 1 tỷ USD trong năm đã qua.
Trong năm nay, Microsoft đang mong đợi đưa ra công khai công nghệ tìm kiếm của riêng mình, công nghệ mà ngài Gates nói sẽ giúp Microsoft bắt kịp Google. Tuần trước, Microsoft đã đưa ra phiên bản thử nghiệm gồm một bộ các nút phần mềm đặc biệt của trình duyệt IE mà hãng đã thiết kế để hướng dẫn những người dùng tìm kiếm MSN và các dịch vụ liên quan. Tuy nhiên, đối với Google, mối đe doạ lớn hơn là Microsoft sẽ quyết định chọn công cụ tìm kiếm Internet, giống như trình duyệt Web trước đó, lẽ ra là một phần không thể thiếu trong các phiên bản tương lai của hệ điều hành Windows.
Thế nhưng, tại thời điểm này, sự dẫn đầu của Google dường như là không thể chế ngự. Năm ngoái, Rick Rashid, Phó chủ tịch Microsoft phụ trách bộ phận nghiên cứu của công ty, đã đến các tiền đồn của hãng tại Silicon Valley để đưa ra một sự chứng minh về một công cụ tìm kiếm Microsoft Research dùng để thí nghiệm. Tuy nhiên, sau đấy ít lâu, Mike Burrows, một trong những người tiên phong đầu tiên trong tìm kiếm Internet tại Digital Equipment, người sau đó đã hỗ trợ thiết kế công cụ tìm kiếm dùng để thí nghiệm của Microsoft, đã êm ả rời bỏ Microsoft. Anh ta đã gia nhập Google.
Nhưng thậm chí nếu Google có thể bảo vệ vị trí đứng đầu về công nghệ, nó sẽ vẫn thua Microsoft về tiềm lực tiếp thị?
Google tham gia công việc đúng quy tắc Silicon Valley đầy khắc nghiệt mà tiêu biểu là các công ty giống như Netscape. Trụ sở mới của hãng, trên một khu bãi rộng rãi trước kia được SGI, một nhà sản xuất máy tính sử dụng, từ trụ sở ban đầu của Netscape, chỉ cần đi ngang qua đường cao tốc là đến.
Phát mãi chứng khoán (IPO) – canh bạc của Google
Nhưng nhiều uỷ viên ban quản trị Silicon Valley kì cựu đang hoài nghi về khả năng Google giữ được văn hoá tập thể của nó với nhau một khi nó đi vào cổ phần hoá vào cuối năm nay. Việc đưa ra cổ phần hoá bước đầu, đã thấy trước, được cho rằng là để tạo ra hàng trăm người giàu có ngay lập tức giữa những nhân viên thông thường của hãng, nhưng sẽ sa thải nhiều nhân công được thuê khác giống như những người thầu khoán thiếu thu nhập đáng kể. Như một kết quả, một số người đã than phiền rằng Google đang thúc đẩy một xã hội giai cấp trong nội bộ của nó.
Mặc dù, trong một phạm vi nào đó, sự bất mãn có thể được hạn chế trên quy mô lớn nhờ công việc kinh doanh quảng cáo Adwords của công ty, công việc nhằm mục đích tạo và đặt quảng cáo tìm kiếm được tập trung. Hoạt động đó đã nhanh chóng làm tăng những người lao động tạm thời. Một uỷ viên ban quản trị của Google cho biết: ”môi trường Adwords là tàn bạo”.
Những người đã đi qua những con đường gập ghềnh tương tự tại Silicon Valley thì nói: Mặc dù, rõ ràng, việc giữ tinh thần đồng đội sôi nổi của Google rất thiết thực sau I.P.O. sẽ khó khăn.
Một uỷ viên ban quản trị trước đây của Netscape, người cũng lo lắng rằng hai người sáng lập trẻ tuổi, với tất cả sự tài giỏi của họ, có thể không thích hợp lắm với kiểu nhóm quản lý cần để vận hành Google như một công ty cổ phần phát triển nhanh chóng, cho biết: ”Để đối phó với sự thách thức, Google đang tính toán để tiếp tục duy trì một tốc độ đổi mới cao” trong dáng vẻ bên ngoài của một sự kiện đổ vỡ giống như I.P.O”.
Mặc dù Google có những mặt dễ bị tấn công rõ ràng, Microsoft đã thấy rõ ở Silicon Valley một sự hùng mạnh nhưng không phải là đối thủ có tính sáng tạo đặc biệt. Nằm ngoài phạm vi công việc kinh doanh Office và Windows nòng cốt của mình, gần đây Microsoft không có nhiều thành công để gây sự chú ý – hãng đã có một danh sách tăng trưởng gây thất vọng. Điều này bao gồm bộ chơi game video Xbox và hộp Ultimate TV set-top.
Nói cách khác, những đối thủ đã chiến đấu với Microsoft và sống sót để nói về nó. Stewart Alsop, một nhà tư bản kỳ cựu, người đã hỗ trợ tài chính để sáng tạo bộ phận ghi video số của TiVo, cho phép những người xem TV dễ dàng ghi hàng giờ những video được soạn chương trình để xem tại những thời điểm khác, thì nói: ”Tại TiVo, chúng tôi đã kiềm chế nhìn vào cái thùng 40 tỷ USD. Chúng tôi đã né tránh viên đạn đặc biệt đó khi Microsoft ngừng hoạt động Ultimate TV và dần dần bỏ kinh doanh”.
Theo những uỷ viên ban quản trị khác, những người cạnh tranh với Microsoft, vị trí của Google có khả năng phòng thủ hơn những gì mà những người đứng đầu của Microsoft tin tưởng.
Rob Glaser, Chủ tịch ban quản trị của RealNetworks, hãng cạnh tranh với Microsoft về phần mềm chạy video và âm thanh số trong các máy tính cá nhân thì nói: ”Thông tin tốt cho Google đó là những cái họ làm có nhiều nhánh, không dễ dàng gì có thể đáp ứng theo một bước”.
Còn những người khác thì nói rằng mặc dù bản án chấp thuận dàn xếp vụ độc quyền của Bộ Tư pháp còn yếu kém, nó có thể vẫn đủ là một rào cản để ngăn chặn Microsoft trong việc tạo ra tìm kiếm Internet như một thành phần tích hợp của hệ điều hành theo cùng cách hãng đã tích hợp trình duyệt Web.
S. Jerrold Kaplan, một người điều hành kinh doanh, cạnh tranh chống lại Microsoft trong khi làm việc tại Lotus, hãng tạo ra bảng tính và bây giờ là bộ phận của I.B.M. nói: ”Họ không thể hạ thấp Google dựa vào giá cả, và tôi không nghĩ họ có thể tránh khỏi việc tìm kiếm hợp nhất”.
Một uỷ viên quản trị của Google cho biết: Khi sẵn sàng đưa ra việc cổ phần hoá, Google đang cố gắng tránh không theo vết xe đổ Netscape bằng cách duy trì tập trung vào biện pháp làm hài lòng khách hàng của mình. Trong những chiếc máy tính tại trụ sở của Google, trang chủ liên tục hiển thị những phản hồi đồ thị cho biết Google làm tốt công việc tìm kiếm ra sao, so sánh với các đối thủ của nó. Thậm chí độ dốc nhẹ nhất trong hiệu suất tìm cũng tạo ra báo động.
Google cũng đã dùng một người từng trải tại Silicon Valley, William V. Campbell, Chủ tịch của Intuit, như một cố vấn. Nguyên tắc chỉ đạo của ông dành cho những người của Google, như những người lao động tự dựa vào chính họ, đó là: không để ý đến sự tham gia sắp tới của Microsoft như một đối thủ và tập trung vào khách hàng.
Nguồn lực chất xám và khách hàng
Một vài uỷ viên ban quản trị của Google cho biết Microsoft đã bắt đầu một chiến dịch tuyển mộ với mục đích thu hút những nhân viên thoái chí và thiếu niềm tin của Google. Những thành viên mới Microsoft đã gọi đến nhà những nhân viên của Google, thuyết phục họ gia nhập Microsoft và ám chỉ rằng những quyền lựa chọn cổ phiếu của họ sẽ mất giá trị một khi Microsoft gia nhập thị trường tìm kiếm bằng một biện pháp thật sự.
Lisa Gurry, Giám đốc phụ trách sản phẩm tại MSN cho biết, ”Phương pháp của chúng tôi đã từng tìm thấy những nhân tài thông minh và giỏi nhất. Ngoài điều đó ra, tôi không thể bổ sung bất cứ điều gì”.
Những người đứng đầu Google cũng cho biết họ tin rằng Microsoft đang đeo đuổi một hệ thống tìm kiếm website bị Google đánh giá thấp, những website thống kê lượng truy cập chuyên ăn tiền các công ty để cố gắng thổi phồng vị trí của họ. Công ty đang thu hút sự cộng tác của những khách hàng không thiện cảm với Google.
Theo Ms. Gurry, hiện nay, Microsoft đang dựa vào Overture để thực hiện những danh sách tìm kiếm trả tiền. Nhưng Google vẫn đang trụ vững một cách chắc chắn. Như chính ngài Gates đã thừa nhận, Google đã được xếp vào hàng ngũ những chuyên gia công nghệ xuất sắc. Họ được tập trung vào cả việc giữa vững vị trí dẫn đầu của công ty về công nghệ tìm kiếm và cả việc phát triển lĩnh vực dịch vụ mới.
Để hỗ trợ cho công việc, Google đã âm thầm phát triển những hệ thống mà những chuyên gia công nghiệp nhận định sẽ là những công cụ tính toán lớn nhất thế giới. Mùa xuân năm ngoái, Google đã có hơn 50.000 máy tính phân bổ ở 12 trung tâm máy tính lớn trên khắp thế giới. Theo một người hiểu chi tiết về trung tâm dữ liệu tính toán Google, đến lễ Tạ ơn năm 2003, số máy tính trong mạng tìm kiếm của hãng đã đạt mức đỉnh 100.000 chiếc. Công ty đang đặt một canh bạc quan trọng để Microsoft sẽ gặp khó khăn khi đối chọi với thời gian đáp ứng của nó theo dòng lũ ngày càng tăng của những yêu cầu tìm kiếm.
Ngoài hoả lực tính toán bổ sung, Google có một danh sách mở rộng các dịch vụ mới mà nó sẽ đưa ra như sự cạnh tranh với những tuyên bố của Microsoft và Yahoo. Ví dụ, mới đây nó đã giới thiệu Orkut, một dịch vụ mạng xã hội dự định cạnh tranh với Friendster, LinkedIn và những dịch vụ khác. Những bí mật vẫn là một dịch vụ thư điện tử có một thành phần quảng cáo.
Công ty cũng đã đang đẩy mạnh tìm kiếm các nguồn thông tin mới theo danh mục, nằm ngoài phạm vi những tài liệu đã lưu trữ ở dạng số. Trong tháng 12, hãng bắt đầu một cuộc thử nghiệm với những nhà xuất bản sách cho các phần danh mục sách, những bài phê bình và những thông tin thư mục khác cho những người lướt Web.
Và Google đã bắt tay vào một nỗ lực bí mật và tham vọng được biết đến như Project Ocean, theo một cá nhân liên quan đến hoạt động. Với sự hợp tác của Stanford University, hiện nay, công ty có kế hoạch số hoá toàn bộ bộ sưu tập sách khổng lồ của Thư viện đã xuất bản trước năm 1923, những cuốn sách không bị hạn chế lâu nữa bởi những giới hạn bản quyền. Dự án có thể bổ sung hàng triệu cuốn sách được số hoá sẽ sẵn có dành riêng qua Google.
Về mặt tiếp thị, công ty đang chạy đua để thiết lập sức mạnh của hãng ra nước ngoài. Wayne Rosing, Phó chủ tịch về kỹ thuật tại Google, đã từng chọn đi du lịch khắp thế giới, đưa công cụ tìm kiếm của công ty vào những hệ thống kinh tế địa phương và những công nghệ cục bộ. Hãng đang tập trung ban đầu vào 12 quốc gia.
Ông Page, người đồng sáng lập Google, thậm chí đang cố gắng thuyết phục ông Schmidt, một giám đốc điều hành kỳ cựu được tuyển mộ từ Novell Inc. và những nhân vật khác trong công ty để tiếp thị một loại điện thoại có tích hợp một PDA giản thiểu bên trong, cho phép những người lướt web sử dụng Google ở bất cứ đâu.
Đối với tất cả tính hiệu động thái quá của Google, vẫn có một ý thức mỏng manh trong nhiều người kỳ cựu Silicon Valley điều mà họ đã nhìn thấy bộ phim này trước. Công ty có thể không có vẻ ngạo mạn của Netscape, nhưng vẫn không rõ là tất cả sự tiếp thị thông minh, công nghệ và sự nhận dạng loại hàng của nó có khả năng chống lại sự tấn công dữ dội của Microsoft khi nó đến.
Sau tất cả, giống như Silicon Valley, ngài Gate cũng đã học được từ một số sai lầm của mình. Tại Davos, ngài Gates buồn bã thừa nhận rằng Google ”đã đá đít chúng tôi”, nhắc nhở ông ta về những gì mà bản thân Microsoft đã từng làm với các hãng khác ở hai thập kỷ trước.
Ông ta nói: ”Chiến lược của chúng tôi là làm một công việc tốt dựa trên 80% những yêu cầu phổ biến và bỏ qua những thứ khác”. Nhưng, ông nói thêm rằng: ”Vẫn còn lại 20%, bởi vì đó là nơi dành cho sự nhận thức về chất lượng”.
Ông ta hứa không lặp lại sai lầm đó.
Add comment 22/07/2007
Google Browser Sync – đồng bộ các thiết lập Mozilla Firefox giữa nhiều máy tính
Google Browser Sync là một tiện ích mới của Google cho phép người dùng Internet đồng bộ các thiết lập của trình duyệt Mozilla Firefox (bookmark, history, cookies, tên và mật khẩu đăng nhập website đã ghi nhớ…) giữa nhiều máy tính khác nhau dựa trên một tài khoản Gmail đăng ký từ trước.
Thay vì áp dụng phương pháp thủ công là sao lưu bằng tay các thiết lập của Mozilla Firefox đang xài rồi mang sang những máy khác để khôi phục, từ bây giờ cho dù đang ở bất cứ nơi đâu, bạn vẫn có thể truy cập được vào được những trang web yêu thích đã đánh dấu trong trình duyệt “con cưng” từ máy cá nhân.
Một khả năng tuyệt vời khác của Google Browser Sync là ghi nhận những trang web mà bạn từng mở trong phiên làm việc cuối với Mozilla Firefox và cung cấp tùy chọn để bạn phục hồi lại chúng trong phiên làm việc kế tiếp. Nhìn chung, Google Browser Sync là công cụ thực sự hữu ích với những ai thường xuyên phải làm việc lưu động.
1. Để sử dụng, trước tiên bạn dùng Mozilla Firefox truy cập vào địa chỉ www.google.com/tools/firefox/browsersync để cài đặt Google Browser Sync trên máy cá nhân.
Trong trang web xuất hiện, bạn bấm vào liên kết “browsersync.xpi” nằm dưới dòng chữ Install Now. Ở trang kế tiếp, bạn bấm nhanh nút Agree and Install và trong hộp thoại mở ra, chờ vài giây rồi bấm nút Install Now. Tiếp đến, bấm Restart Firefox cho Mozilla Firefox khởi động lại nhằm hoàn tất việc cài đặt.

- Tại hộp thoại Welcome to Google Browser Sync hiện ra ngay sau đó, bạn bấm Next để bắt đầu việc sao lưu các thiết lập trên trình duyệt Mozilla Firefox hiện hành.
- Trong hộp thoại “Setting up your account“, bạn lần lượt gõ tên và mật khẩu đăng nhập tài khoản Gmail của mình vào hai hộp Email và Password, rồi bấm Next. Trong trường hợp chưa có tài khoản Gmail, bạn hãy bấm vào dòng chữ Create an account now để đăng ký.
- Trong hộp thoại Setup Type kế đó, chương trình đưa ra 2 chế độ sao lưu và đồng bộ dữ liệu của Mozilla Firefox với các máy khác để bạn chọn lựa là: Standard (sao lưu và đồng bộ tất cả thiết lập quan trọng nhất), Advanced (cho phép bạn tùy chọn những thành phần muốn sao lưu). Xong, bấm Next.
Trong hộp thoại “Choosing a PIN“, bạn nhập vào 2 hộp Choose a PIN và Confirm PIN mật khẩu dùng để giải mã dữ liệu Mozilla Firefox (đã sao lưu từ máy cá nhân) trên những máy khác, rồi bấm Next. Sau đó, chờ chương trình tạo ra một tài khoản Google Browser Sync cũng như đưa thông tin về dữ liệu sao lưu lên server, đến khi hộp thoại “Congratulation. You’ve successfully installed Google Browser Sync” xuất hiện là hoàn tất.
Sau khi bấm Finish, phía trên góc phải giao diện Mozilla Firefox sẽ xuất hiện thêm biểu tượng của Google Browser Sync với tiêu đề là tên đăng nhập tài khoản Gmail của bạn. Nhấp chuột vào nó và chọn Settings để mở cửa sổ thiết lập thông số làm việc cho Google Browser Sync (ảnh 1).
Tại thẻ Account Information > Google Account, bấm nút Stop syncing khi muốn tạm dừng việc đồng bộ dữ liệu. Nếu lỡ quên mật khẩu giải mã dữ liệu đã xác lập ở trên, bạn bấm nút Show ở trường Security PIN. Nút Full Refresh tại trường Full Refresh có chức năng cập nhật thêm những dữ liệu mà bạn vừa lưu lại trong Mozilla Firefox. Tại thẻ Sync Settings, bạn có thể chọn lọc ra những thành phần nào muốn đồng bộ với máy khác và cần phải có mật khẩu để giải mã dữ liệu. Xong, bấm OK.
2. Khi muốn đồng bộ dữ liệu Mozilla Firefox trên máy cá nhân với máy khác (chẳng hạn máy cơ quan), bạn thực hiện tuần tự như sau:

- Cài đặt Google Browser Sync vào máy này. Trong hộp thoại Welcome to Google Browser Sync, bạn bấm Next. Trong hộp thoại “Setting up your account“, bạn cũng nhập tên và mật khẩu đăng nhập tài khoản Gmail của mình vào 2 hộp Email và Password, rồi bấm Next.
- Đến với hộp thoại Welcome back to Google Browser Sync, bạn nhập mật khẩu giải mã dữ liệu Mozilla Firefox vào hộp Enter PIN và bấm Next. Tiếp theo là khoảng thời gian chờ đợi (có thể vài phút hoặc lâu hơn tùy thuộc vào tốc độ đường truyền) trong khi chương trình kết nối và nhận dữ liệu về từ server. Đến khi hộp thoại “You’ve successfully installed Google Browser Sync on this machine” xuất hiện là việc đồng bộ dữ liệu Mozilla Firefox giữa 2 máy đã thành công. Từ lúc này, mọi thay đổi về thiết lập của Mozilla Firefox mà bạn tạo ra trên máy cơ quan đều ảnh hưởng đến Mozilla Firefox trên máy cá nhân (trừ phi bạn tạm dừng việc đồng bộ dữ liệu).
Bấm nút Finish và trong trang web mở ra, bạn sẽ thấy cửa sổ Restore Last Session với nút lệnh Restore page có chức năng phục hồi cửa sổ những trang web mà bạn đã mở trong phiên làm việc cuối trên máy cá nhân
Add comment 22/07/2007
Chạy nhiều Yahoo! Messenger cùng một lúc
Bật notepad, copy đoạn mã sau rồi save với tên multi.reg
Windows Registry Editor Version 5.00
[HKEY_CURRENT_USER\Software\yahoo\pager\Test]
“Plural”=dword:00000001
Click đúp chuột vào file multi.reg
Add comment 20/07/2007